CHUÀ MỘT CỘT

THỜI GIAN KHÔNG CHỜ ĐỢI

QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Tài nguyên dạy học

DANH NGÔN

Photobucket

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Toitinh1.swf EMVEVOINGUOI.swf DANGNGOC2.swf HOANG_MANG.swf NGUOI_DIQUADOITOI.swf HMLC.swf HAI_CHUYEN_TAU_DEM1.swf Netsonbuon.swf KHONGTENCUOI.swf Hoahoctro.swf Tam_su_nang_bu_ram.swf Website_Thanh_Huyen_Chieng_An_junior_high_school_2.swf Vao_ha1.swf Valentine2013.swf Thiep11.swf CMNM.jpg Untitled11.swf Happy_new_year.swf

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEB

    Sắp xếp dữ liệu

    KHÁCH Online

    THỜI TIẾT


    Power by

    KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7

    LỜI RU NGỌN CỎ * Bùi Văn Bồng Cỏ xanh bên mộ khẽ ru À ơi! Rừng đã vào thu lá vàng Dấu chân quy tập muộn màng Mộ còn nằm với cỏ hoang rừng già Nơi đây nhiều cỏ ít hoa Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh. Bao năm vững bước quân hành Lá rừng vẫy gió rung cành ngụy trang Giờ đây giữa cánh rừng hoang Hồn thiêng khao khát khói nhang trong chiều Nắng xiên xiên, gió xiêu xiêu Để cho lá cỏ xanh theo hồn người. Mùa thu đầy lá vàng rơi Mùa đông trắng xóa chân trời sương giăng Hồn thiêng gọi lá thắm rừng Giọt sương mai cũng đọng ngưng nỗi niềm Đọng ngưng từng hạt sương rơi Là khi lá cỏ gọi đời lên xanh Người hy sinh, đất hồi sinh Trái tim hoá ngọc lung linh đất trời. Lời ru ấm nắng. Người ơi! Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời Thương đau ru đến muôn đời Và xanh, xanh mãi để lời ru êm Cho dù ai đó lãng quên Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.

    KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7

    VINH DANH MỘT SỨ THẦN NƯỚC NAM Giang Văn Minh sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây (Hà Nội). Giang Văn Minh học giỏi, đỗ đạt cao làm quan Triều Lê nổi tiêng thanh liêm, cương trực và ứng đối giỏi. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa, khoa thi Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Ở Thái Bình quê tôi, trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh. Nơi ông sinh ra ở xã Đường Lâm cũng là quê hương của 2 vị vua nổi tiếng thời xưa là Phùng Hưng-Bố Cái Đại Vương và vua Ngô Quyền. Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông được vua Lê cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Đến khi triều kiến, Minh Tự Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vừa tìm cách ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê vừa ngạo mạn có ý coi thường Giang Văn Minh và muốn hạ nhục đoàn sứ thần nước Nam nên ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!” ( Cột đồng đến nay rêu vẫn còn xanh) Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nguiã Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại Việt – bị diệt vong). Sứ thần nước Nam, Giang Văn Minh bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ lâu máu vẫn đỏ) Ý nhắc đến việc từ xưa đã nhiều lần người nước Nam chiển thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng. Câu đối lại của Giang Văn Minh thật là hoàn chỉnh, cả ý lẫn từ, lại thể hiện được khí phách hiên ngang anh hùng của dân tộc Việt Nam trước quân xâm lược. Tức giận vì bị làm bẽ mặt, bất chấp phép tắc ngoại gíao, vua Minh đã trả thù bằng cách trát đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Nhưng sau cảm phục khí phách can đảm anh hùng của sứ thần nước Nam, vua Minh cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân để đưa về quê xã Đường Lâm an táng. Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (Hà Nội). Hiện nay, ngôi mộ của Giang Văn Minh thường xuyên được du khách đến thăm viếng với lòng biết ơn, kính phục, ngưỡng mộ. Nhân ngày 27/7 chúng ta thành kính nghiêng mình thắp nén hương tưởng nhớ Giang Văn Minh vị anh hùng liệt sĩ huyền thoại. Chúng ta hãy tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ đã cảm tử cho Dân tộc Lạc Việt trường tồn, nhân ngày kỷ niệm thiêng liêng 27/7. Và người sống chúng ta sẽ phải sống thế nào để không hổ thẹn với những xương máu của biết bao thế hệ anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh, những hồn thiêng bất tử. Nhà nước cần phải có kế hoạch khẩn trương nạp kiến thức chuẩn mực cho thế hệ trẻ vì suy cho cùng xây chùa là cần nhưng cứu người lại càng cần hơn. “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” Đầu tháng 12 năm ngoái (2012), hướng tới kỷ niệm chào mừng 95 năm ngày thành lập trường, Ban giám hiệu trường THCS Trưng Vuơng (Hà Nội) kết hợp với bên “TGM – Tôi tài giỏi! Bạn cũng thế” tổ chức câu lạc bộ “Trái tim Trưng Vương”. Ý nghĩa việc thành lập câu lạc bộ “Trái tim Trưng Vương” là muốn tạo ra một đội tình nguyện viên hiểu sâu sắc về ngôi trường các em đang học: lịch sử, tổ chức, … để từ đó các em có thể giới thiệu về ngôi trường của mình khi tiếp đón các đoàn khách trong và ngoài nước. Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà – phó Hiệu trưởng nhà trường khai mạc Câu lạc bộ và giảng cho các em học sinh bài học về trái tim. Trong lời khai mạc của mình, cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà kể lại cho các em học sinh trong câu lạc bộ nghe câu chuyện về “Trái tim Đanko”, qua câu chuyện giúp các em thấy được ý nghĩa của chí khí anh hùng bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, tình yêu thương, đặc biệt là ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập thể. Trái tim Đanko là một phần trong tác phẩm nổi tiếng “Bà lão Idécghin” của Mác-xim Gorki. Chuyện kể rằng chàng Danko đã dũng cảm, xé toang lồng ngực móc trái tim mình ra giương lên cao như ngọn đuốc sáng giúp dân làng vượt qua vùng tăm tối để tới miền đất hứa. Tấm gương như sứ thần Giang Văn Minh và các liệt sĩ bao đời đã hy sinh vì dân tộc Việt soi đường cho muôn thế hệ. Việt Nam có phải là ‘miền đất hứa’? Trả lời câu hỏi này là tất cả người Việt chúng ta! Trước hết là vai trò và trách nhiệm của những người đang điều hành và quản lý đất nước. Câu chuyện về sự hy sinh can đảm của Giang Văn Minh có thể nhắc nhở nhiều điều. Đó là tấm gương sáng chói về tinh thần xả thân vì đất nước. Đó cũng là bài học lớn mà cha ông ta đã dạy về ý thức cảnh giác sẵn sàng đối phó với những thủ đoạn rất tàn bạo, rất bất ngờ của các thế lực bành trướng phương Bắc. Tưởng nhớ và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước không thể chỉ bằng các lời hứa suông mà phải bằng các hành động thiết thực. Chính bọn tham nhũng, các nhóm lợi ích đang làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu sức mạnh của dân, có thể nhắc nhở ta và làm chúng ta thấy xấu hổ, cảm thấy có lỗi với các bậc tiên liệt. Liệt sĩ vì nước hy sinh đời nào cũng có. Nhưng có những Anh hùng liệt sĩ làm nên những Anh hùng liệt sĩ, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu; có những quân thần giàu lòng yêu nước, tự trọng dân tộc và trí dũng song toàn như Giang Văn Minh…, tựu trung nhất là hình ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những liệt sĩ hy sinh cho nòi giống Việt Nam không bị đồng hóa, nhờ đó mà còn Tổ Quốc để cho các thế hệ nối tiếp hy sinh bảo vệ Tổ Quốc. Những liệt sĩ ấy thuộc bậc siêu phàm và hiển thánh! Theo Tô Văn Trường

    Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ

    TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

    Nghĩ về tượng Đức Thánh Trần ở Trường Sa Cập nhật lúc :10:55 AM, 05/06/2012 Việc dựng tượng Đức Thánh Trần, thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy nhất được nhân dân phong Thánh, tại Song Tử Tây, nơi đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa, là một việc làm thật có ý nghĩa! Đây một hành động mạnh mẽ trong quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh Việt Nam “có cứng mới đứng đầu gió”, gió Biển Đông! Ngọn gió của “bát ngát sóng kình muôn dặm”, “nước trời một sắc” nơi “sóng Hồng cuốn cuộn tuôn về Biển Đông” mà Trương Hán Siêu nói đến trong Bạch Đằng Giang phú: “Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Cũng là bãi biển xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”. “Ô Mã” đây chính là tên tướng Tàu xâm lược ở thế kỷ 13 từng khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng, nơi Hưng Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc đâm thủng thuyền giặc. Tượng Đức Thánh Trần tại đảo Song Tử Tây. Đúng là trong những trận quyết chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông cha ta, một quốc gia bán đảo với bờ biển dài 3.260km, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo. Hơn nữa, trong tâm thế Việt, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dạo ấy... và bất kỳ kẻ xâm lược nào đang lảng vảng ở Biển Đông hôm nay chắc sẽ vẫn còn nhớ đến bài học xưa. Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ... Ngay cây rừng cũng mọc rậm rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến... Con mắt và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều đó!” Ngẫm sâu vào tự tình dân tộc sẽ thấy rằng, trong cảm thức người Việt chúng ta, núi và biển có sức lay động thật mãnh liệt. Biểu tượng con Rồng, cháu Tiên từ huyền thoại Lạc Long - Âu Cơ ghi đậm không chỉ là hình tượng thăng hoa của nguồn cội, mà suy ngẫm cho kỹ, thì ra đây từng là sự lựa chọn của ông cha ta, hướng núi hay hướng biển? Dựa vào hình thể đất nước thì chọn hướng nào để phát triển? Trường Sa. Phải chăng truyền thuyết 50 người con theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển là một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi và hướng biển. Mà hướng biển xem ra có phần ưu trội vì trong mô hình mẫu hệ thì “mẹ Âu Cơ” chắc không phải là yếu thế hơn, nếu không là ngược lại. Chỉ có điều, ân huệ của biển rất nhiều song không dễ thụ hưởng, còn tai họa vì bão lụt do biển gây ra thì lại bạo liệt tàn khốc. Vì thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” và là yếu tố bảo thủ nhất, biến đổi chậm nhất theo thời gian, cùng với các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn “hướng núi”, dựa vào núi để mà mở nước phải chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng đừng vào buổi ấy mặc dù biển vẫn luôn vẫy gọi. Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ 17. Bản lĩnh đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam, hướng ra biển từ dải Hoành Sơn, tạo ra một thế phát triển mới. Tầm nhìn chiến lược, xuyên lịch sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của bậc danh sĩ thế kỷ 16 Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi Nguyễn Hoàng, đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm thế dân tộc: hướng ra biển. Nhưng cũng chính vì thế mà những thế lực bành trướng quyết chặn con đường biển của chúng ta, không muốn chúng ta mạnh lên, cản trở cho tham vọng bành trướng của chúng. Mà đâu chỉ phải hôm nay. Trong lịch sử, các đạo quân xâm lược tràn vào nước ta từ đường biển. Cho nên, ông cha ta không một khoảnh khắc lơi lỏng. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: năm 1161, Lý Anh Tông sai đô tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa. Năm 1171, vua đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào. Năm 1172, mùa Xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về. Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước? Và chính trên con đường biển ấy, bao thây xâm lược đã làm mồi cho cá. Trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán đánh dấu một bước trong tiến trình xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập là một ví dụ. Bình về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “Một vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!” . Quả đúng vậy! Trận quyết chiến chiến lược của quân dân đời Trần tháng ba năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông Bạch Đằng lịch sử này. Trong Nguyên sử, q.166, Phàn Tiếp truyện chép: “Kịch chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu”, tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên tính khốc liệt của cuộc chiến. Rõ ràng là vào thời điểm nhạy cảm như hiện nay, càng phải có ý thức thường trực về việc động viên tình cảm yêu nước của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm thất thoát hay để thui chột tình cảm ấy, vì những ứng xử tế nhị trên trường quốc tế mà cản trở việc tuổi trẻ thể hiện tình cảm yêu nước đó là có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất, từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn gấm vóc hôm nay. Việc dựng tượng Đức Thánh Trần tại Song Tử Tây của Trường Sa đầu sóng ngọn gió có ý nghĩa gợi nhớ bài học lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, đồng thời cũng biểu tỏ bản lĩnh Việt Nam trước mọi mưu toan của kẻ thù.

    14-3-1988 - TƯỞNG NHỚ CÁC ANH

    CÁC BẬC ANH HÙNG NƯỚC VIỆT

    Photobucket>

    Photobucket
    Gốc > TƯ LIỆU LICHI SỬ >

    YẾT KIÊU

    yet_kieu_500

    Danh tướng Yết Kiêu và những điều ít người biết

     

    Yết Kiêu với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân.

    Đền Quát, nơi thờ danh tướng Yết Kiêu. Ảnh: Thành Chung

    Về huyện Gia Lộc, cách thị trấn khoảng 3 km về phía tây, đi qua những cánh đồng lúa đang trổ bông đón gió, ta sẽ đến Đền Quát, tại Hạ Bì (vốn là một làng chài ở tả ngạn sông Đáy), nơi thờ Yết Kiêu, một danh tướng tài đức song toàn, đặc biệt là tài thuỷ chiến trời Trần.
     
    Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, con ông Phạm Hữu Hiệu, người thôn Hạ Bì và bà Vũ Thị Duyên, người huyện Thanh Hà. Cha làm nghề chài lưới bên sông Quát, mẹ bán hàng nước ở bến đò.
     
    Cuộc sống bần hàn của một gia đình ngư dân nghèo khó và sớm mồ côi cha đã khiến Phạm Hữu Thế rất vất vả, phải chài lưới, cào hến giúp mẹ kiếm ăn ngay từ nhỏ. Cuộc sống trên sông nước đã khiến ông bơi lội rất giỏi.
     
    Tương truyền, năm 15 tuổi, vào một buổi sáng tinh mơ, Phạm Hữu Thế ra sông gánh nước. Sương trắng mù mịt nổi khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu trắng húc nhau liền dùng đòn ống đánh đuổi, can ngăn. Hai con trâu biến mất, Hữu Thế thấy còn hai chiếc lông còn dính vào đòn ống, đặt xuống nước, nước rẽ ra làm đôi.
     
    Cho đây là lông trâu thần, ông liền nuốt vào bụng. Từ đấy, Phạm Hữu Thế có thân thể hùng cường, trí lực, bơi lội tài giỏi, đi trong nước như ở trên đất bằng vậy.
     
    Sự lạ lùng ấy ứng với bức hoành phi trong đền Quát “Thiên cổ dị nhân” (từ trước tới nay mới có người lạ thường như vậy). Thực ra, đây là một cách lý giải tài bơi lội của Phạm Hữu Thế để làm tăng thêm tính phi thường của viên tướng xứ Đông này, khẳng định tài bơi lội của ông như do thần linh mang lại.
     
    Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai và lần ba, Phạm Hữu Thế với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” (đi dưới nước ung dung, tự tại như trên đất bằng) đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân. Ông đã được nhân dân và vua quan nhà Trần gọi là Yết Kiêu (tên một loài cá lớn ngày xưa).
     
    Nhiệm vụ của Yết Kiêu là tìm cách đục thuyền của giặc trong đêm. Khi màn đêm buông xuống, Yết Kiêu tìm cách vượt qua hàng lính bảo vệ thuyền giặc rồi nhẹ nhàng đục thuyền giặc. Mỗi thuyền phải đục khoảng trên 20 lỗ, đục được lỗ nào lại phải dùng giẻ đã cuộn tròn và buộc dây đút lút lại. Những cuộn giẻ ấy đều được buộc lại với nhau bằng một sợi dây.
     
    Một đêm, Yết Kiêu đục được khoảng 30 thuyền giặc. Đến gần sáng khi đã đục đủ số thuyền đã định, Yết Kiêu liền kéo dây khiến những nút giẻ trôi ra khỏi thuyền, khiến hàng chục thuyền giặc bị đắm. Hoàn thành nhiệm vụ, ông lại nhẹ nhàng bơi về địa điểm an toàn.
     
    Có lần, Yết Kiêu bị vây bắt ở bãi sông. Ông núp mình dưới những bụi cây mọc lúp xúp và tránh sự lùng sục gay gắt của giặc. Chúng dùng kiếm đâm vào bụi cây, trúng đùi Yết Kiêu. Yết Kiêu cắn răng chịu đựng, khi kẻ thù rút kiếm ra, ông cố gắng chịu đau và dùng tay lau vết máu dính trên lưỡi kiếm để kẻ thù không phát hiện thấy mình...
     
    Sau kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, Bảng nhãn Lê Đỗ được triều Trần cử sang Nguyên triều đi sứ, mong nối lại hoà khí với nước mạnh hơn mình mà mang lại hoà bình cho nhân dân đất Việt. Yết Kiêu vốn là võ tướng thuỷ quân được cử làm tướng hộ vệ Lê Đỗ.
     
    Trong lần đi sứ ấy, vua Nguyên rất mến mộ tài năng của Yết Kiêu liền tỏ ý muốn gả công chúa Nguyên triều vốn rất xinh đẹp cho ông. Ông liền từ chối khéo và thưa rằng để trở về tâu xin vua Đại Việt, nếu vua Đại Việt đồng ý thì sẽ xin sang Nguyên triều làm lễ cưới.
     
    Trở về đất nước, vua quan triều Trần lo lắng sẽ mất một viên tướng tài giỏi nên không đồng ý. Công chúa Nguyên triều đợi mãi không thấy Yết Kiêu sang thì xin vua cha cho sang đất Đại Việt để làm lễ thành hôn với Yết Kiêu. Biết tin này, vua quan nhà Trần muốn ngăn cản cuộc hôn nhân, đã báo tin Yết Kiêu qua đời khi công chúa Nguyên triều mới đi đến vùng biển Quảng Đông giáp biên giới Đại Việt.
     
    Công chúa vô cùng thương xót Yết Kiêu, bèn thuê người tạc tượng mình thả xuôi sang nước ta, lập đàn cầu siêu cho linh hồn Yết Kiêu bên bờ biển tỉnh Quảng Đông và  cầu nguyện: “Thiếp và chàng sống trên trần thế chưa nên duyên chồng vợ, nay chàng không còn nữa, thiếp nguyện thác xuống âm phủ để gặp chàng và nên nghĩa vợ chồng”, rồi gieo mình từ đàn cầu siêu xuống biển Quảng Đông để tỏ lòng chung thuỷ. Hai võ quan và chín nàng hầu cũng nhẩy xuống biển tự vẫn để theo hầu công chúa...
     
    Yết Kiêu mất ngày 28 tháng chạp năm Ất Sửu (1303), hưởng thọ 61 tuổi. Khi ông mất, vua Trần cho lập đền thờ ở bờ sông Hạ Bì  quê ông là đền Quát. Khu đền đã trải qua hơn 700 năm, đến thế kỷ XVII- XVIII  được tôn tạo khang trang và tu sửa nhiều lần vào triều Nguyễn. Khu di tích đền Quát được xếp hạng quốc gia (28-1-1989).
     
    Lễ hội đền Quát thường diễn ra vào rằm tháng giêng và rằm tháng tám. Vào dịp này, nhân dân địa phương và khách thập phương lại trở về vùng sông nước Hạ Bì, trước là lễ tạ thành hoàng Yết Kiêu, sau là dự hội  làm bánh, hội đua thuyền ... Tại lễ hội có lễ tế công chúa Nguyên triều, và phải là những cô gái chưa chồng mới được tham gia lễ rước.
    Theo NAM HÀ (Hải Dương Online)

    YẾT KIÊU

    (Thế kỷ XIII)

    Yết Kiêu là tuỳ tướng của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Ông tên thật là Phạm Hữu Thế. Quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Phúc (nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương).

    Nhà ông rất nghèo, nên ngày ngày phải lặn lội ven sông mò cua, bắt cá. Yết Kiêu có tài bơi lặn giống như một loài thuỷ tộc. Sau này, ông là một trong năm tuỳ tướng tài giỏi và thân tín của Trần Hưng Đạo, đó là: Cao Mang, Đại Hành, Nguyễn Địa Lô, Dã Tượng và ông.

    Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thế kỷ XIII, ông chuyên dùng tài bơi lặn của mình để xâm nhập sâu vào đội hình địch để đục thủng đánh chìm các chiến thuyền, mang lại nhiều chiến công vang dội đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến. Cũng bằng tài bơi lặn của mình mà ông đã nhiều lần xông pha nơi trận tiền, giữa đội hình địch để cứu nguy và bảo vệ cho chủ tướng. Yết Kiêu rất được Hưng đạo Đại vương tin yêu và trọng dụng. Đã có lần Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ướm hỏi về việc nhiều người khuyên can Đại vương hãy lấy lại ngôi vua từ ngành thứ về cho ngành trưởng (Cụ Trần Liễu thân phụ của Trần Hưng Đạo là anh của Trần Cảnh vị vua đầu tiên của Triều Trần. Chi tiết của sự việc nhiều người đã biết).

     

    Hưng đạo Đại vương thử hỏi:

    “…Khi phụ thân ta (tức Trần Liễu) sắp mất có dặn bảo ta phải lấy cho được thiên hạ, thì Người mới an lòng nhắm mắt. Nhà ngươi thấy thế nào, có nên làm thế không?..”

    Yết Kiêu thưa:

    “…Làm vậy tuy có phú quý nhất thời mà ô danh muôn thuở. Tôi muốn làm quan hầu cho Đại vương đến lúc già chết, chứ không muốn làm quan với ông vua bất trung…”

     

    Khi ông mất, vua Trần truyền lập đền thờ ông ở bờ sông làng Hạ Bì quê ông

    (tên nôm là làng Quát). Hội đền Quát được tổ chức long trọng và rất lớn hàng năm vào ngày 15-8 âm lịch để tưởng nhớ Yết Kiêu. Lễ hội có tục bơi thuyền chải nam, nữ. Yết Kiêu được tôn là ông tổ của ngành bơi lặn nước ta.

    Ở Hải Dương, cùng với đền Quát còn có nhiều nơi thờ phụng Yết Kiêu, nhất là những nơi ông đánh trận ngày xưa. Đặc biệt tại làng chài có tên Nam Hải, thuộc xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng có một ngôi đền do nhân dân lập lên để thờ Yết Kiêu (tức Phạm Hữu Thế). Tại đây, nhân dân coi ông là người khai thiên lập địa, là vị Thành hoàng của cả xã. Vì hầu hết người dân Kênh Giang hiện nay vẫn giữ nghề sông nước, nhưng đã vươn xa hơn ra ngoài tỉnh và ra cả biển. Điều đặc biệt tại ngôi đền này còn lưu truyền được một vật vô giá, đó là chiếc mũ chiến cổ bằng đồng rất nặng của chính Yết Kiêu đội khi đi đánh trận. Lễ hội tưởng nhớ Yết Kiêu tại đây diễn ra vào 15- Giêng âm lịch hàng năm, cũng thu hút rất đông du khách thập phương tìm về tham dự.

     

    Về danh tướng Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, đời sau có thơ vịnh rằng:

    “Hồ Hải xông pha tỏ ý mình

    Không nề lặn lội cứu sinh linh

    Đáy nước khoan thuyền bắt Bá Linh

    Cướp vía Thoát Hoan khi đắc báo

    Giáp oai Hưng Đạo lúc hành binh

    Một mai phá giặc thành công lớn

    Rạng vẻ trời Nam một tướng tinh”.

    -------------

     

     PHẠM VĂN CHỨC

    Đài PT-TH tỉnh Hải Dương; ĐT: 0982.199.309 ; 03206.259.309

     

    Giai thoại, truyền thuyết

    về tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế

     Ai trong số những người họ Phạm chúng ta cũng luôn tự hào về tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế. Một vị tướng tài giỏi của Nhà Trần, một gia nô hết mực trung thành của Trần Hưng Đạo.

    Trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn lưu truyền một số giai thoại, truyền thuyết, ca ngợi công đức và tài năng của ông, xin trân trọng giới thiệu với bà con trong dòng tộc để chúng ta thêm tự hào về một thuở cha ông.

    1. Trâu thần và Yết Kiêu

    Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế. Quê cha (cụ Phạm Hữu Hiệu) ở làng Hạ Bì, còn gọi là làng Quát ( xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay).Nhưng quê mẹ (cụ Vũ Thị Duyên) lại ở Lôi Động, xã Tân An, huyện Thanh Hà cùng tỉnh. Bố làm nghề đánh cá. Nhà nghèo, cha mất sớm, từ nhỏ Phạm Hữu Thế đã phải nối nghiệp bố lăn lộn trên sông nước, kiếm ăn nuôi mẹ. Truyền thuyết kể nhiều về tuổi niên thiếu của ông.

    Một hôm, về Lôi Động, ông đi gánh nước, thấy hai con trâu một đen một trắng húc nhau chí mạng. Con trâu đen thua nhưng cuc, đánh sừng rất hiểm. Con trâu trắng phi phàm, húc khỏe nhưng ra đòn nhởn nhơ. Vốn có sức khỏe vật được trâu, Hữu Thế hạ đôi thùng gánh nước, dùng đòn ống vụt vài miếng thượng hạ. Trâu đen dính đòn chạy re, lao vào làng. Trâu trắng né đòn như người, một cú xiên rất hiểm làm trâu trắng ngã lăn và kỳ lạ thay tan thành ánh nắng mờ ảo rồi biến mất. Chỗ đất trâu đứng tìm thấy hai chiếc lông. Cầm lên ngắm, tự nhiên Hữu Thế thấy máu bừng lên mặt. Ông chạy ra ao, lao xuống nước, nước rẽ đôi, lên bờ thấy lông không ướt, có lẽ nó cũng muốn tan trong nắng. Hữu Thế vội nuốt vào bụng. Từ đó thân thể cường tráng, trí lực phi thường, bơi lội dưới nước như đi trên đất bằng (Nhập thủy như phúc bình địa).

    Đêm ấy về nhà, ông kể với mẹ. Vũ Nương bảo đó là chuyện đại cát. Hai mẹ con đều mơ một giấc mơ hệt nhau. Sáng ra kể, xóm làng đều cho là lạ.Giấc mơ đó là, hai mẹ con được đón một đôi trai thanh gái lịch, họ vào nhà Vũ Nương, vách đất, nền đất biến thành lâu đài. Cái ao dào dạt sóng vỗ thành con sông dài tít tắp. Trời không trăng vẫn rực sáng. Ở gốc xoan, một con trâu trắng thừng xuyên mũi buộc chặt gốc cây. Hữu Thế dụi mắt bảo mẹ: “Đúng con trâu sáng con gặp đây”. Người con trai và cô gái bảo: “Ta là Ngưu Lang và Chức Nữ, nay dịp Ngâu chúng ta gặp nhau, không chăn trâu cho trời được, phải buộc mũi không nó đi khắp bầu trời biết đâu mà tìm”. Vũ Nương hỏi: “Chúng tôi ở đâu?”. Ngưu Lang bảo: “Lúc sáng tôi đi tìm trâu gặp con trai bà, con bà không làm hại trâu. Tôi muốn mời hai mẹ con bà lên trời chơi để trả ơn. Đây là đào tiên vườn Tây Vương Mẫu, tôi biếu bà một giỏ. Còn con trai bà sau này sẽ được lưu danh trong quốc sử vì có nhiều công lao giúp nước”. Hữu Thế tò mò hỏi: “Sông gì sáng thế?”. Người con trai bảo : “Cậu sẽ nổi danh vì sông nước mà không biết sông này ư!”. Nói rồi người con trai vỗ tay cho con sông cuộn sóng cao ngất: “Đó là sông Ngân Hà. Ta sẽ còn bảo trâu thần, cày thần xuống giúp đất Bàng Hà sau vài bốn trăm năm nữa”. Chợt trên sông Ngân rợp tiếng quạ kêu. Chúng vừa bay đầy trời vừa đan kết thành cây cầu Ô Thước. Ngưu Lang nhẹ nhàng bảo Chức Nữ: “Thôi ta về”. Cô gái mỉm cười đi theo, đằng sau là con trâu trắng. Thế là tan giấc mộng.

     

    2. Làm tướng đánh giặc

    Tài năng Hữu Thế ngày một nổi tiếng. Trần Hưng Đạo trọng dụng và đặt tên là Yết Kiêu. Cùng với Dã Tượng là tướng tài lục quân, Yết Kiêu là tướng sông nước. Hai ông được Trần Hưng Đạo coi là gia nô, cận vệ trung thành, tài trí và mưu lược. Có phen chặn giặc ở biên giới, địch mạnh ta phải lui. Hưng Đạo vương định lui quân theo đường chân núi, Dã Tượng can vì đoán có quân Nguyên mai phục. Song rút đường sông thì biết tìm đường nào? Yết Kiêu đi dò đường từ hôm trước đã đợi ở bãi Tân. Khi Trần Hưng Đạo quay khỏi núi về đường thủy trời đã mờ tối, nhìn bến nước mờ ảo vẫn có con thuyền nhỏ đứng đợi và sau đó đưa Vương rút lui an toàn. Kỵ binh giặc Nguyên không hiểu quân Trần có tài thăng thiên hay là độn thổ nữa. Đại vương Hưng Đạo cả mừng mà rằng: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ 6 cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường. Yết Kiêu, Dã Tượng là cánh chim hồng hộc của ta”.

    Giữa Trần Liễu (phụ thân Trần Hưng Đạo) và em là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) có mối bất hòa lớn do Thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu nhường vợ cho Trần Cảnh. Trần Liễu đã nói với Trần Hưng Đạo là phải vì cha mà lấy thiên hạ. Khi thế nước lung lay, quyền bính quân quốc đều nằm ở trong tay mình, con Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Tảng khuyên cha thực hiện ý đồ của ông nội. Ý đã quyết, nhưng Trần Hưng Đạo vẫn muốn thử lòng 2 gia nô cật ruột là Yết Kiêu và Dã Tượng, cả hai đều can.

     

    Yết Kiêu có công lớn trong sự nghiệp đánh giặc Nguyên, được vua Trần phong tặng: “Trần triều Hữu tướng Đệ nhất bộ đô soái thủy quân, Tước hầu”.

     

    Chuyện đánh giặc của Yết Kiêu được dân làng Lôi Động kể rất nhiều. Người người còn nhớ mãi chuyện ông dùng tài lặn đánh đắm thuyền giặc, bị bắt còn lừa được giặc nhảy xuống sông thoát….Lần ấy, ông có nhiệm vụ khóa đuôi một cuộc hành quân đường thủy. Thuyền lương đi chậm quá, ngoặt sang khúc sông khác thì thuyền địch đến. Những tên giặc Nguyên mình trần đầu trọc, thấy thuyền Yết Kiêu chỉ có một mình ông, chúng hò nhau đuổi hòng bắt sống ông.Chúng hí hố reo mừng, cá tươi, thịt béo, rượu nồng ngả ra kín đặc quanh Yết Kiêu. Bất ngờ, ông xuống tấn khiến thuyền lật úp. Quân Nguyên chờ mài không thấy ông nổi lên, rà đáy sông, buông lưới vẫn không thấy gì. Về đến quân doanh nhà Trần, ông mới tươi cười kể: Lúc đó có con cá chép cực lớn lượn qua, ông đã leo lên mình cá, bơi nhanh thoát ra khỏi vòng vây. Từ khi có hai chiếc lông trâu của Ngưu Lang, Yết Kiêu có tài bầu bạn với cá nước như với người.

     Ở quê Hạ Bì, dân làng đã làm con cá chép bằng gỗ quý, mình dài 1m20, giữa thân đường kính 28cm, đục rỗng. Vây, vẩy được cách điệu bằng các hoa văn trang trí sinh động. Đầu cá to, râu dài vắt hai bên mép, miệng há to vểnh lên trông rất ngộ nghĩnh và độc đáo.

     

    3. Với công chúa nhà Nguyên

    Yết Kiêu từng tháp tùng đoàn sứ bộ sang cống nhà Nguyên. Vì phục tài, quý đức trung hiền của Yết Kiêu mà vua Nguyên bỏ cả hiềm khích, cho công chúa và chục nàng hầu đến dinh sứ bộ để hầu hạ từng người. Vua Nguyên mật lệnh cho công chúa phải có con trai với tướng nhà Trần và tìm cách nếu có thể thì giữ chân Yết Kiêu lại. Éo le thay, Yết Kiêu thì vô tình mà công chúa thì hữu ý. Nàng cảm phục người con trai đất Bàng Hà, rồi đem lòng yêu thương, thầm nguyện theo hầu chăn gối…Sự tình chẳng ai hay, đoàn sứ bộ vẫn làm tròn phận sự rồi mãn hạn ra về. Yết Kiêu lại tháp tùng đoàn chu đáo và cẩn trọng…Công chúa nhà Nguyên đâm nhớ thương, tủi hờn, oán vua cha, trách thân trách phận. Thế rồi, nàng mặt mày ủ ê, sầu thảm…

     

    Những vần thơ được lưu truyền đến ngày nay, tương truyền được công chúa nhà Nguyên ngâm ngợi và thêu vào khăn áo gửi theo đoàn sứ bộ Đại Việt:

    Độc thượng giang lâu tứ liễu nhiên 
    Nguyệt quang như thủy, thủy như thiên 
    Đồng lai vọng nguyệt nhân hà xứ 
    Phong cảnh y hy tự khứ niên.

    Cao lão ở làng Lôi Động phỏng dịch là:

    Lên lầu dạ thấy bồi hồi 
    Trăng soi bóng nước, nước trời hòa nhau 
    Cùng ta thưởng nguyệt đêm nao 
    Bây giờ đã ở phương nào, người ơi ?!

     

    Và lại nữa:

    Dục biệt khiên Lang Y

    Lang kim đáo hà xứ

    Bất hận quy lai trì

    Mạc hướng lâm cùng khứ.

    Có lời dịch là:

    Dứt áo phút ly biệt

    Thiếp hỏi chàng đi đâu

    Chẳng hận về sai hẹn

    Chỉ mong chớ phụ nhau.

    Rồi công chúa nhà Nguyên ốm to. Vua Nguyên cuống lên, ra chỉ để công chúa sang thăm Đại Việt, cầu hôn Yết Kiêu. Sang đến vùng biên giới (Móng Cái bây giờ)thì nàng được tin Yết Kiêu đã tạ thế. Nàng bèn sai lập đàn để cầu siêu cho “ linh hồn”Yết Kiêu tịnh độ. Lại tự lập đàn cầu siêu cho mình, rồi công chúa quyên sinh trên đất Đại Việt…Đáng thương cho công chúa nhà Nguyên, nàng có biết đâu, cái ngón “mỹ nhân kế” của vua cha, sang Đại Việt gặp phải người sắt đá, anh hùng…đâu có lụy nữ nhi thường tình mà mắc vào bẫy, sa vào mưu chước hậu chiến của giặc Nguyên. Yết Kiêu nghe tin, cũng thật thương cho người con gái đài các cao sang mà nhẹ dạ.

    Đời sau, ở đền Quát (nơi thờ Yết Kiêu đến bây giờ) dân làng cũng lấy đá tạc 9 nàng hầu và 2 vệ sĩ để thờ vọng hương hồn người đã trao mối chân tình với Yết Kiêu. Thực ra, có lẽ do xuất thân từ thường dân, chức phận gia nô, nên sử sách không ghi nhiều về Yết Kiêu (?!). Nhưng đối với nhân dân, tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế sống trong huyền thoại và dã sử, sống mãi trong lòng dân muôn đời. Những câu chuyện trên đây là minh chứng cho nhận định ấy và được truyền bá rộng rãi nơi quê hương ông và cả nững nơi ông đã từng đánh giặc giữ nước./.

     

      PHẠM VĂN CHỨC 
      (Ghi lại từ các câu chuyện dân gian kể ở Hải Dương)


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗtấn Thanh @ 10:49 05/08/2012
    Số lượt xem: 818
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Photobucket Photobucket

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    BỤI PHẤN


    MỜI BẠN CÙNG ĐI DU LỊCH

    2. Có thể thay đổi kích thước : 3. Thêm các thông tin về tour du lịch : 4. Thay đổi khoảng thời gian giữa hai bức ảnh : 5. Nhúng bằng iframe






    Anh giờ này đang xa cách ngàn phương

    Những bình yên có hay không khi mình thôi chung hướng?

    Trao trả lại nhau những gì ta cho là quá khứ

    Và mỗi người tìm một chốn bình yên.

    Chao.






    ht hoa phuong


    cuc



    NỖI BUỒN HOA PHƯƠNG!! ...


    Khi con ve nhỏ râm rang
    Phượng hồng chớm nở, trường tan, bùi ngùi
    Nắng trưa, đường vắng bóng người
    Dõi theo áo trắng, đỏ trời phượng ơi !

    Ước gì mình được chung đôi
    Để cho lòng khỏi mồ côi tháng hè
    Trăm lần muốn nói... im re !
    Để rồi tự trách... con Ve lắm lời

    Ngày mai Trường đóng cửa rồi
    Ta về nhặt cánh phượng rơi... đỡ buồn !


    cuc