KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7
KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7
Giang Văn Minh sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông
Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây
trước năm 1945, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn
Tây (Hà Nội). Giang Văn Minh học giỏi, đỗ đạt cao
làm quan Triều Lê nổi tiêng thanh liêm, cương trực và
ứng đối giỏi. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi
thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa, khoa thi Mậu
Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Ở
Thái Bình quê tôi, trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở
thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái
Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2
(1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa
Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại
phu, Thái bộc tự khanh. Nơi ông sinh ra ở xã Đường
Lâm cũng là quê hương của 2 vị vua nổi tiếng thời
xưa là Phùng Hưng-Bố Cái Đại Vương và vua Ngô
Quyền. Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông
được vua Lê cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu
phong và tuế cống nhà Minh. Đến khi triều kiến, Minh
Tự Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vừa
tìm cách ngăn trở việc công nhận sự chính thống
của nhà Hậu Lê vừa ngạo mạn có ý coi thường Giang
Văn Minh và muốn hạ nhục đoàn sứ thần nước Nam
nên ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!”
( Cột đồng đến nay rêu vẫn còn xanh) Câu này có hàm
ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi
nguiã Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột
đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại
Việt – bị diệt vong). Sứ thần nước Nam, Giang Văn
Minh bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết
do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ lâu máu vẫn đỏ) Ý
nhắc đến việc từ xưa đã nhiều lần người nước
Nam chiển thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc
trên sông Bạch Đằng. Câu đối lại của Giang Văn Minh
thật là hoàn chỉnh, cả ý lẫn từ, lại thể hiện
được khí phách hiên ngang anh hùng của dân tộc Việt
Nam trước quân xâm lược. Tức giận vì bị làm bẽ
mặt, bất chấp phép tắc ngoại gíao, vua Minh đã trả
thù bằng cách trát đường vào miệng và mắt ông,
rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to
gan lớn mật đến đâu”. Nhưng sau cảm phục khí
phách can đảm anh hùng của sứ thần nước Nam, vua Minh
cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân để
đưa về quê xã Đường Lâm an táng. Ở Hà Nội hiện
nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với
phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (Hà Nội).
Hiện nay, ngôi mộ của Giang Văn Minh thường xuyên
được du khách đến thăm viếng với lòng biết ơn,
kính phục, ngưỡng mộ. Nhân ngày 27/7 chúng ta thành
kính nghiêng mình thắp nén hương tưởng nhớ Giang Văn
Minh vị anh hùng liệt sĩ huyền thoại. Chúng ta hãy
tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ đã cảm tử cho
Dân tộc Lạc Việt trường tồn, nhân ngày kỷ niệm
thiêng liêng 27/7. Và người sống chúng ta sẽ phải
sống thế nào để không hổ thẹn với những xương
máu của biết bao thế hệ anh hùng, liệt sĩ đã hy
sinh, những hồn thiêng bất tử. Nhà nước cần phải
có kế hoạch khẩn trương nạp kiến thức chuẩn mực
cho thế hệ trẻ vì suy cho cùng xây chùa là cần nhưng
cứu người lại càng cần hơn.
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” Đầu tháng 12
năm ngoái (2012), hướng tới kỷ niệm chào mừng 95 năm
ngày thành lập trường, Ban giám hiệu trường THCS
Trưng Vuơng (Hà Nội) kết hợp với bên “TGM – Tôi
tài giỏi! Bạn cũng thế” tổ chức câu lạc bộ
“Trái tim Trưng Vương”. Ý nghĩa việc thành lập câu
lạc bộ “Trái tim Trưng Vương” là muốn tạo ra một
đội tình nguyện viên hiểu sâu sắc về ngôi trường
các em đang học: lịch sử, tổ chức, … để từ đó
các em có thể giới thiệu về ngôi trường của mình
khi tiếp đón các đoàn khách trong và ngoài nước. Cô
giáo Nguyễn Thị Thu Hà – phó Hiệu trưởng nhà
trường khai mạc Câu lạc bộ và giảng cho các em học
sinh bài học về trái tim. Trong lời khai mạc của mình,
cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà kể lại cho các em học sinh
trong câu lạc bộ nghe câu chuyện về “Trái tim
Đanko”, qua câu chuyện giúp các em thấy được ý
nghĩa của chí khí anh hùng bắt nguồn từ lòng yêu
nước nồng nàn, tình yêu thương, đặc biệt là ý
thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập
thể. Trái tim Đanko là một phần trong tác phẩm nổi
tiếng “Bà lão Idécghin” của Mác-xim Gorki. Chuyện
kể rằng chàng Danko đã dũng cảm, xé toang lồng ngực
móc trái tim mình ra giương lên cao như ngọn đuốc sáng
giúp dân làng vượt qua vùng tăm tối để tới miền
đất hứa. Tấm gương như sứ thần Giang Văn Minh và
các liệt sĩ bao đời đã hy sinh vì dân tộc Việt soi
đường cho muôn thế hệ. Việt Nam có phải là ‘miền
đất hứa’? Trả lời câu hỏi này là tất cả
người Việt chúng ta! Trước hết là vai trò và trách
nhiệm của những người đang điều hành và quản lý
đất nước. Câu chuyện về sự hy sinh can đảm của
Giang Văn Minh có thể nhắc nhở nhiều điều. Đó là
tấm gương sáng chói về tinh thần xả thân vì đất
nước. Đó cũng là bài học lớn mà cha ông ta đã dạy
về ý thức cảnh giác sẵn sàng đối phó với những
thủ đoạn rất tàn bạo, rất bất ngờ của các thế
lực bành trướng phương Bắc. Tưởng nhớ và tri ân
các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước không thể
chỉ bằng các lời hứa suông mà phải bằng các hành
động thiết thực. Chính bọn tham nhũng, các nhóm lợi
ích đang làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu sức mạnh
của dân, có thể nhắc nhở ta và làm chúng ta thấy
xấu hổ, cảm thấy có lỗi với các bậc tiên liệt.
Liệt sĩ vì nước hy sinh đời nào cũng có. Nhưng có
những Anh hùng liệt sĩ làm nên những Anh hùng liệt
sĩ, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu; có những quân thần
giàu lòng yêu nước, tự trọng dân tộc và trí dũng
song toàn như Giang Văn Minh…, tựu trung nhất là hình
ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những liệt sĩ hy sinh cho
nòi giống Việt Nam không bị đồng hóa, nhờ đó mà
còn Tổ Quốc để cho các thế hệ nối tiếp hy sinh
bảo vệ Tổ Quốc. Những liệt sĩ ấy thuộc bậc siêu
phàm và hiển thánh! Theo Tô Văn Trường Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ
TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO
Nghĩ về tượng Đức Thánh Trần ở Trường Sa Cập
nhật lúc :10:55 AM, 05/06/2012 Việc dựng tượng Đức
Thánh Trần, thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy
nhất được nhân dân phong Thánh, tại Song Tử Tây, nơi
đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa, là một việc làm
thật có ý nghĩa! Đây một hành động mạnh mẽ trong
quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh Việt
Nam “có cứng mới đứng đầu gió”, gió Biển Đông!
Ngọn gió của “bát ngát sóng kình muôn dặm”,
“nước trời một sắc” nơi “sóng Hồng cuốn cuộn
tuôn về Biển Đông” mà Trương Hán Siêu nói đến
trong Bạch Đằng Giang phú: “Đây là chiến địa buổi
Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Cũng là bãi biển xưa,
thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”. “Ô Mã” đây
chính là tên tướng Tàu xâm lược ở thế kỷ 13 từng
khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời,
ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống
đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn
xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng
y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng, nơi Hưng
Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc
đâm thủng thuyền giặc. Tượng Đức Thánh Trần tại
đảo Song Tử Tây. Đúng là trong những trận quyết
chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai
trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông
cha ta, một quốc gia bán đảo với bờ biển dài
3.260km, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo. Hơn nữa, trong
tâm thế Việt, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng
cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô
Mã Nhi, Phàn Tiếp dạo ấy... và bất kỳ kẻ xâm
lược nào đang lảng vảng ở Biển Đông hôm nay chắc
sẽ vẫn còn nhớ đến bài học xưa. Bao đời đứng
trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu,
ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe
được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không
mỏi vỗ sóng vào bờ... Ngay cây rừng cũng mọc rậm
rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà
đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến... Con mắt
và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại
ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng
một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất
nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có
trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn
nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều
đó!” Ngẫm sâu vào tự tình dân tộc sẽ thấy rằng,
trong cảm thức người Việt chúng ta, núi và biển có
sức lay động thật mãnh liệt. Biểu tượng con Rồng,
cháu Tiên từ huyền thoại Lạc Long - Âu Cơ ghi đậm
không chỉ là hình tượng thăng hoa của nguồn cội, mà
suy ngẫm cho kỹ, thì ra đây từng là sự lựa chọn
của ông cha ta, hướng núi hay hướng biển? Dựa vào
hình thể đất nước thì chọn hướng nào để phát
triển? Trường Sa. Phải chăng truyền thuyết 50 người
con theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển là
một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi
và hướng biển. Mà hướng biển xem ra có phần ưu
trội vì trong mô hình mẫu hệ thì “mẹ Âu Cơ”
chắc không phải là yếu thế hơn, nếu không là
ngược lại. Chỉ có điều, ân huệ của biển rất
nhiều song không dễ thụ hưởng, còn tai họa vì bão
lụt do biển gây ra thì lại bạo liệt tàn khốc. Vì
thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” và là
yếu tố bảo thủ nhất, biến đổi chậm nhất theo
thời gian, cùng với các yếu tố tự nhiên khác như
khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn
“hướng núi”, dựa vào núi để mà mở nước phải
chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng
đừng vào buổi ấy mặc dù biển vẫn luôn vẫy gọi.
Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi
về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ 17. Bản lĩnh
đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái
thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam,
hướng ra biển từ dải Hoành Sơn, tạo ra một thế
phát triển mới. Tầm nhìn chiến lược, xuyên lịch
sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của
bậc danh sĩ thế kỷ 16 Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản
lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi
Nguyễn Hoàng, đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm
thế dân tộc: hướng ra biển. Nhưng cũng chính vì thế
mà những thế lực bành trướng quyết chặn con
đường biển của chúng ta, không muốn chúng ta mạnh
lên, cản trở cho tham vọng bành trướng của chúng. Mà
đâu chỉ phải hôm nay. Trong lịch sử, các đạo quân
xâm lược tràn vào nước ta từ đường biển. Cho nên,
ông cha ta không một khoảnh khắc lơi lỏng. “Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư chép: năm 1161, Lý Anh Tông sai đô
tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai
vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây
Nam để giữ yên cõi xa. Năm 1171, vua đi tuần các hải
đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình
đau khổ và đường đi xa gần thế nào. Năm 1172, mùa
Xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa
giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép
phong vật rồi về. Liệu đây có phải là vị vua đầu
tiên vẽ bản đồ đất nước? Và chính trên con
đường biển ấy, bao thây xâm lược đã làm mồi cho
cá. Trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân
Nam Hán đánh dấu một bước trong tiến trình xây dựng
và bảo vệ quốc gia độc lập là một ví dụ. Bình
về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “Một vũ công
cao cả vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy
ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!” . Quả đúng
vậy! Trận quyết chiến chiến lược của quân dân
đời Trần tháng ba năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ
huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan
mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông
Bạch Đằng lịch sử này. Trong Nguyên sử, q.166, Phàn
Tiếp truyện chép: “Kịch chiến từ giờ Mão đến
giờ Dậu”, tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên
tính khốc liệt của cuộc chiến. Rõ ràng là vào thời
điểm nhạy cảm như hiện nay, càng phải có ý thức
thường trực về việc động viên tình cảm yêu nước
của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện
để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm
thất thoát hay để thui chột tình cảm ấy, vì những
ứng xử tế nhị trên trường quốc tế mà cản trở
việc tuổi trẻ thể hiện tình cảm yêu nước đó là
có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông
đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất,
từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn
gấm vóc hôm nay. Việc dựng tượng Đức Thánh Trần
tại Song Tử Tây của Trường Sa đầu sóng ngọn gió
có ý nghĩa gợi nhớ bài học lịch sử vẻ vang của
dân tộc ta, đồng thời cũng biểu tỏ bản lĩnh Việt
Nam trước mọi mưu toan của kẻ thù. 14-3-1988 - TƯỞNG NHỚ CÁC ANH
CÁC BẬC ANH HÙNG NƯỚC VIỆT
>
YẾT KIÊU

Danh tướng Yết Kiêu và những điều ít người biết
Yết Kiêu với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân.

Về huyện Gia Lộc, cách thị trấn khoảng 3 km về phía tây, đi qua những cánh đồng lúa đang trổ bông đón gió, ta sẽ đến Đền Quát, tại Hạ Bì (vốn là một làng chài ở tả ngạn sông Đáy), nơi thờ Yết Kiêu, một danh tướng tài đức song toàn, đặc biệt là tài thuỷ chiến trời Trần.
YẾT KIÊU
(Thế kỷ XIII)
Yết Kiêu là tuỳ tướng của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Ông tên thật là Phạm Hữu Thế. Quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Phúc (nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương).
Nhà ông rất nghèo, nên ngày ngày phải lặn lội ven sông mò cua, bắt cá. Yết Kiêu có tài bơi lặn giống như một loài thuỷ tộc. Sau này, ông là một trong năm tuỳ tướng tài giỏi và thân tín của Trần Hưng Đạo, đó là: Cao Mang, Đại Hành, Nguyễn Địa Lô, Dã Tượng và ông.
Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thế kỷ XIII, ông chuyên dùng tài bơi lặn của mình để xâm nhập sâu vào đội hình địch để đục thủng đánh chìm các chiến thuyền, mang lại nhiều chiến công vang dội đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến. Cũng bằng tài bơi lặn của mình mà ông đã nhiều lần xông pha nơi trận tiền, giữa đội hình địch để cứu nguy và bảo vệ cho chủ tướng. Yết Kiêu rất được Hưng đạo Đại vương tin yêu và trọng dụng. Đã có lần Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ướm hỏi về việc nhiều người khuyên can Đại vương hãy lấy lại ngôi vua từ ngành thứ về cho ngành trưởng (Cụ Trần Liễu thân phụ của Trần Hưng Đạo là anh của Trần Cảnh vị vua đầu tiên của Triều Trần. Chi tiết của sự việc nhiều người đã biết).
Hưng đạo Đại vương thử hỏi:
“…Khi phụ thân ta (tức Trần Liễu) sắp mất có dặn bảo ta phải lấy cho được thiên hạ, thì Người mới an lòng nhắm mắt. Nhà ngươi thấy thế nào, có nên làm thế không?..”
Yết Kiêu thưa:
“…Làm vậy tuy có phú quý nhất thời mà ô danh muôn thuở. Tôi muốn làm quan hầu cho Đại vương đến lúc già chết, chứ không muốn làm quan với ông vua bất trung…”
Khi ông mất, vua Trần truyền lập đền thờ ông ở bờ sông làng Hạ Bì quê ông
(tên nôm là làng Quát). Hội đền Quát được tổ chức long trọng và rất lớn hàng năm vào ngày 15-8 âm lịch để tưởng nhớ Yết Kiêu. Lễ hội có tục bơi thuyền chải nam, nữ. Yết Kiêu được tôn là ông tổ của ngành bơi lặn nước ta.
Ở Hải Dương, cùng với đền Quát còn có nhiều nơi thờ phụng Yết Kiêu, nhất là những nơi ông đánh trận ngày xưa. Đặc biệt tại làng chài có tên Nam Hải, thuộc xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng có một ngôi đền do nhân dân lập lên để thờ Yết Kiêu (tức Phạm Hữu Thế). Tại đây, nhân dân coi ông là người khai thiên lập địa, là vị Thành hoàng của cả xã. Vì hầu hết người dân Kênh Giang hiện nay vẫn giữ nghề sông nước, nhưng đã vươn xa hơn ra ngoài tỉnh và ra cả biển. Điều đặc biệt tại ngôi đền này còn lưu truyền được một vật vô giá, đó là chiếc mũ chiến cổ bằng đồng rất nặng của chính Yết Kiêu đội khi đi đánh trận. Lễ hội tưởng nhớ Yết Kiêu tại đây diễn ra vào 15- Giêng âm lịch hàng năm, cũng thu hút rất đông du khách thập phương tìm về tham dự.
Về danh tướng Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, đời sau có thơ vịnh rằng:
“Hồ Hải xông pha tỏ ý mình
Không nề lặn lội cứu sinh linh
Đáy nước khoan thuyền bắt Bá Linh
Cướp vía Thoát Hoan khi đắc báo
Giáp oai Hưng Đạo lúc hành binh
Một mai phá giặc thành công lớn
Rạng vẻ trời Nam một tướng tinh”.
-------------
PHẠM VĂN CHỨC
Đài PT-TH tỉnh Hải Dương; ĐT: 0982.199.309 ; 03206.259.309
Giai thoại, truyền thuyết
về tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế
Ai trong số những người họ Phạm chúng ta cũng luôn tự hào về tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế. Một vị tướng tài giỏi của Nhà Trần, một gia nô hết mực trung thành của Trần Hưng Đạo.
Trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn lưu truyền một số giai thoại, truyền thuyết, ca ngợi công đức và tài năng của ông, xin trân trọng giới thiệu với bà con trong dòng tộc để chúng ta thêm tự hào về một thuở cha ông.
1. Trâu thần và Yết Kiêu
Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế. Quê cha (cụ Phạm Hữu Hiệu) ở làng Hạ Bì, còn gọi là làng Quát ( xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay).Nhưng quê mẹ (cụ Vũ Thị Duyên) lại ở Lôi Động, xã Tân An, huyện Thanh Hà cùng tỉnh. Bố làm nghề đánh cá. Nhà nghèo, cha mất sớm, từ nhỏ Phạm Hữu Thế đã phải nối nghiệp bố lăn lộn trên sông nước, kiếm ăn nuôi mẹ. Truyền thuyết kể nhiều về tuổi niên thiếu của ông.
Một hôm, về Lôi Động, ông đi gánh nước, thấy hai con trâu một đen một trắng húc nhau chí mạng. Con trâu đen thua nhưng cuc, đánh sừng rất hiểm. Con trâu trắng phi phàm, húc khỏe nhưng ra đòn nhởn nhơ. Vốn có sức khỏe vật được trâu, Hữu Thế hạ đôi thùng gánh nước, dùng đòn ống vụt vài miếng thượng hạ. Trâu đen dính đòn chạy re, lao vào làng. Trâu trắng né đòn như người, một cú xiên rất hiểm làm trâu trắng ngã lăn và kỳ lạ thay tan thành ánh nắng mờ ảo rồi biến mất. Chỗ đất trâu đứng tìm thấy hai chiếc lông. Cầm lên ngắm, tự nhiên Hữu Thế thấy máu bừng lên mặt. Ông chạy ra ao, lao xuống nước, nước rẽ đôi, lên bờ thấy lông không ướt, có lẽ nó cũng muốn tan trong nắng. Hữu Thế vội nuốt vào bụng. Từ đó thân thể cường tráng, trí lực phi thường, bơi lội dưới nước như đi trên đất bằng (Nhập thủy như phúc bình địa).
Đêm ấy về nhà, ông kể với mẹ. Vũ Nương bảo đó là chuyện đại cát. Hai mẹ con đều mơ một giấc mơ hệt nhau. Sáng ra kể, xóm làng đều cho là lạ.Giấc mơ đó là, hai mẹ con được đón một đôi trai thanh gái lịch, họ vào nhà Vũ Nương, vách đất, nền đất biến thành lâu đài. Cái ao dào dạt sóng vỗ thành con sông dài tít tắp. Trời không trăng vẫn rực sáng. Ở gốc xoan, một con trâu trắng thừng xuyên mũi buộc chặt gốc cây. Hữu Thế dụi mắt bảo mẹ: “Đúng con trâu sáng con gặp đây”. Người con trai và cô gái bảo: “Ta là Ngưu Lang và Chức Nữ, nay dịp Ngâu chúng ta gặp nhau, không chăn trâu cho trời được, phải buộc mũi không nó đi khắp bầu trời biết đâu mà tìm”. Vũ Nương hỏi: “Chúng tôi ở đâu?”. Ngưu Lang bảo: “Lúc sáng tôi đi tìm trâu gặp con trai bà, con bà không làm hại trâu. Tôi muốn mời hai mẹ con bà lên trời chơi để trả ơn. Đây là đào tiên vườn Tây Vương Mẫu, tôi biếu bà một giỏ. Còn con trai bà sau này sẽ được lưu danh trong quốc sử vì có nhiều công lao giúp nước”. Hữu Thế tò mò hỏi: “Sông gì sáng thế?”. Người con trai bảo : “Cậu sẽ nổi danh vì sông nước mà không biết sông này ư!”. Nói rồi người con trai vỗ tay cho con sông cuộn sóng cao ngất: “Đó là sông Ngân Hà. Ta sẽ còn bảo trâu thần, cày thần xuống giúp đất Bàng Hà sau vài bốn trăm năm nữa”. Chợt trên sông Ngân rợp tiếng quạ kêu. Chúng vừa bay đầy trời vừa đan kết thành cây cầu Ô Thước. Ngưu Lang nhẹ nhàng bảo Chức Nữ: “Thôi ta về”. Cô gái mỉm cười đi theo, đằng sau là con trâu trắng. Thế là tan giấc mộng.
2. Làm tướng đánh giặc
Tài năng Hữu Thế ngày một nổi tiếng. Trần Hưng Đạo trọng dụng và đặt tên là Yết Kiêu. Cùng với Dã Tượng là tướng tài lục quân, Yết Kiêu là tướng sông nước. Hai ông được Trần Hưng Đạo coi là gia nô, cận vệ trung thành, tài trí và mưu lược. Có phen chặn giặc ở biên giới, địch mạnh ta phải lui. Hưng Đạo vương định lui quân theo đường chân núi, Dã Tượng can vì đoán có quân Nguyên mai phục. Song rút đường sông thì biết tìm đường nào? Yết Kiêu đi dò đường từ hôm trước đã đợi ở bãi Tân. Khi Trần Hưng Đạo quay khỏi núi về đường thủy trời đã mờ tối, nhìn bến nước mờ ảo vẫn có con thuyền nhỏ đứng đợi và sau đó đưa Vương rút lui an toàn. Kỵ binh giặc Nguyên không hiểu quân Trần có tài thăng thiên hay là độn thổ nữa. Đại vương Hưng Đạo cả mừng mà rằng: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ 6 cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường. Yết Kiêu, Dã Tượng là cánh chim hồng hộc của ta”.
Giữa Trần Liễu (phụ thân Trần Hưng Đạo) và em là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) có mối bất hòa lớn do Thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu nhường vợ cho Trần Cảnh. Trần Liễu đã nói với Trần Hưng Đạo là phải vì cha mà lấy thiên hạ. Khi thế nước lung lay, quyền bính quân quốc đều nằm ở trong tay mình, con Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Tảng khuyên cha thực hiện ý đồ của ông nội. Ý đã quyết, nhưng Trần Hưng Đạo vẫn muốn thử lòng 2 gia nô cật ruột là Yết Kiêu và Dã Tượng, cả hai đều can.
Yết Kiêu có công lớn trong sự nghiệp đánh giặc Nguyên, được vua Trần phong tặng: “Trần triều Hữu tướng Đệ nhất bộ đô soái thủy quân, Tước hầu”.
Chuyện đánh giặc của Yết Kiêu được dân làng Lôi Động kể rất nhiều. Người người còn nhớ mãi chuyện ông dùng tài lặn đánh đắm thuyền giặc, bị bắt còn lừa được giặc nhảy xuống sông thoát….Lần ấy, ông có nhiệm vụ khóa đuôi một cuộc hành quân đường thủy. Thuyền lương đi chậm quá, ngoặt sang khúc sông khác thì thuyền địch đến. Những tên giặc Nguyên mình trần đầu trọc, thấy thuyền Yết Kiêu chỉ có một mình ông, chúng hò nhau đuổi hòng bắt sống ông.Chúng hí hố reo mừng, cá tươi, thịt béo, rượu nồng ngả ra kín đặc quanh Yết Kiêu. Bất ngờ, ông xuống tấn khiến thuyền lật úp. Quân Nguyên chờ mài không thấy ông nổi lên, rà đáy sông, buông lưới vẫn không thấy gì. Về đến quân doanh nhà Trần, ông mới tươi cười kể: Lúc đó có con cá chép cực lớn lượn qua, ông đã leo lên mình cá, bơi nhanh thoát ra khỏi vòng vây. Từ khi có hai chiếc lông trâu của Ngưu Lang, Yết Kiêu có tài bầu bạn với cá nước như với người.
Ở quê Hạ Bì, dân làng đã làm con cá chép bằng gỗ quý, mình dài 1m20, giữa thân đường kính 28cm, đục rỗng. Vây, vẩy được cách điệu bằng các hoa văn trang trí sinh động. Đầu cá to, râu dài vắt hai bên mép, miệng há to vểnh lên trông rất ngộ nghĩnh và độc đáo.
3. Với công chúa nhà Nguyên
Yết Kiêu từng tháp tùng đoàn sứ bộ sang cống nhà Nguyên. Vì phục tài, quý đức trung hiền của Yết Kiêu mà vua Nguyên bỏ cả hiềm khích, cho công chúa và chục nàng hầu đến dinh sứ bộ để hầu hạ từng người. Vua Nguyên mật lệnh cho công chúa phải có con trai với tướng nhà Trần và tìm cách nếu có thể thì giữ chân Yết Kiêu lại. Éo le thay, Yết Kiêu thì vô tình mà công chúa thì hữu ý. Nàng cảm phục người con trai đất Bàng Hà, rồi đem lòng yêu thương, thầm nguyện theo hầu chăn gối…Sự tình chẳng ai hay, đoàn sứ bộ vẫn làm tròn phận sự rồi mãn hạn ra về. Yết Kiêu lại tháp tùng đoàn chu đáo và cẩn trọng…Công chúa nhà Nguyên đâm nhớ thương, tủi hờn, oán vua cha, trách thân trách phận. Thế rồi, nàng mặt mày ủ ê, sầu thảm…
Những vần thơ được lưu truyền đến ngày nay, tương truyền được công chúa nhà Nguyên ngâm ngợi và thêu vào khăn áo gửi theo đoàn sứ bộ Đại Việt:
Độc thượng giang lâu tứ liễu nhiên
Nguyệt quang như thủy, thủy như thiên
Đồng lai vọng nguyệt nhân hà xứ
Phong cảnh y hy tự khứ niên.
Cao lão ở làng Lôi Động phỏng dịch là:
Lên lầu dạ thấy bồi hồi
Trăng soi bóng nước, nước trời hòa nhau
Cùng ta thưởng nguyệt đêm nao
Bây giờ đã ở phương nào, người ơi ?!
Và lại nữa:
Dục biệt khiên Lang Y
Lang kim đáo hà xứ
Bất hận quy lai trì
Mạc hướng lâm cùng khứ.
Có lời dịch là:
Dứt áo phút ly biệt
Thiếp hỏi chàng đi đâu
Chẳng hận về sai hẹn
Chỉ mong chớ phụ nhau.
Rồi công chúa nhà Nguyên ốm to. Vua Nguyên cuống lên, ra chỉ để công chúa sang thăm Đại Việt, cầu hôn Yết Kiêu. Sang đến vùng biên giới (Móng Cái bây giờ)thì nàng được tin Yết Kiêu đã tạ thế. Nàng bèn sai lập đàn để cầu siêu cho “ linh hồn”Yết Kiêu tịnh độ. Lại tự lập đàn cầu siêu cho mình, rồi công chúa quyên sinh trên đất Đại Việt…Đáng thương cho công chúa nhà Nguyên, nàng có biết đâu, cái ngón “mỹ nhân kế” của vua cha, sang Đại Việt gặp phải người sắt đá, anh hùng…đâu có lụy nữ nhi thường tình mà mắc vào bẫy, sa vào mưu chước hậu chiến của giặc Nguyên. Yết Kiêu nghe tin, cũng thật thương cho người con gái đài các cao sang mà nhẹ dạ.
Đời sau, ở đền Quát (nơi thờ Yết Kiêu đến bây giờ) dân làng cũng lấy đá tạc 9 nàng hầu và 2 vệ sĩ để thờ vọng hương hồn người đã trao mối chân tình với Yết Kiêu. Thực ra, có lẽ do xuất thân từ thường dân, chức phận gia nô, nên sử sách không ghi nhiều về Yết Kiêu (?!). Nhưng đối với nhân dân, tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế sống trong huyền thoại và dã sử, sống mãi trong lòng dân muôn đời. Những câu chuyện trên đây là minh chứng cho nhận định ấy và được truyền bá rộng rãi nơi quê hương ông và cả nững nơi ông đã từng đánh giặc giữ nước./.
PHẠM VĂN CHỨC
(Ghi lại từ các câu chuyện dân gian kể ở Hải Dương)
Đỗtấn Thanh @ 10:49 05/08/2012
Số lượt xem: 818
- Tấm bia đá của vua Tự Đức lưu lạc 140 năm mới đến đích (27/06/12)
- Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt? (27/06/12)
- Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt? (27/06/12)
- Chuyện tình buồn của bà hoàng 'yêu Duy Tân cưới Khải Định' (07/06/12)
- ẢNH CHÁNH SỨ PHAN THANH GIẢN, PHÓ SỨ PHẠM PHÚ THỨ VÀ ĐOÀN SỨ GIẢ VIỆT NAM TẠI PARIS NĂM 1863 (07/06/12)
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BỤI PHẤN
MỜI BẠN CÙNG ĐI DU LỊCH
Anh giờ này đang xa cách ngàn phương
Những bình yên có hay không khi mình thôi chung
hướng?
Trao trả lại nhau những gì ta cho là quá khứ
Và mỗi người tìm một chốn bình yên.
Chao.
�
�






Các ý kiến mới nhất