CHUÀ MỘT CỘT

THỜI GIAN KHÔNG CHỜ ĐỢI

QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Tài nguyên dạy học

DANH NGÔN

Photobucket

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Toitinh1.swf EMVEVOINGUOI.swf DANGNGOC2.swf HOANG_MANG.swf NGUOI_DIQUADOITOI.swf HMLC.swf HAI_CHUYEN_TAU_DEM1.swf Netsonbuon.swf KHONGTENCUOI.swf Hoahoctro.swf Tam_su_nang_bu_ram.swf Website_Thanh_Huyen_Chieng_An_junior_high_school_2.swf Vao_ha1.swf Valentine2013.swf Thiep11.swf CMNM.jpg Untitled11.swf Happy_new_year.swf

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEB

    Sắp xếp dữ liệu

    KHÁCH Online

    THỜI TIẾT


    Power by

    KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7

    LỜI RU NGỌN CỎ * Bùi Văn Bồng Cỏ xanh bên mộ khẽ ru À ơi! Rừng đã vào thu lá vàng Dấu chân quy tập muộn màng Mộ còn nằm với cỏ hoang rừng già Nơi đây nhiều cỏ ít hoa Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh. Bao năm vững bước quân hành Lá rừng vẫy gió rung cành ngụy trang Giờ đây giữa cánh rừng hoang Hồn thiêng khao khát khói nhang trong chiều Nắng xiên xiên, gió xiêu xiêu Để cho lá cỏ xanh theo hồn người. Mùa thu đầy lá vàng rơi Mùa đông trắng xóa chân trời sương giăng Hồn thiêng gọi lá thắm rừng Giọt sương mai cũng đọng ngưng nỗi niềm Đọng ngưng từng hạt sương rơi Là khi lá cỏ gọi đời lên xanh Người hy sinh, đất hồi sinh Trái tim hoá ngọc lung linh đất trời. Lời ru ấm nắng. Người ơi! Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời Thương đau ru đến muôn đời Và xanh, xanh mãi để lời ru êm Cho dù ai đó lãng quên Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.

    KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7

    VINH DANH MỘT SỨ THẦN NƯỚC NAM Giang Văn Minh sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây (Hà Nội). Giang Văn Minh học giỏi, đỗ đạt cao làm quan Triều Lê nổi tiêng thanh liêm, cương trực và ứng đối giỏi. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa, khoa thi Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Ở Thái Bình quê tôi, trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh. Nơi ông sinh ra ở xã Đường Lâm cũng là quê hương của 2 vị vua nổi tiếng thời xưa là Phùng Hưng-Bố Cái Đại Vương và vua Ngô Quyền. Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông được vua Lê cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Đến khi triều kiến, Minh Tự Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vừa tìm cách ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê vừa ngạo mạn có ý coi thường Giang Văn Minh và muốn hạ nhục đoàn sứ thần nước Nam nên ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!” ( Cột đồng đến nay rêu vẫn còn xanh) Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nguiã Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại Việt – bị diệt vong). Sứ thần nước Nam, Giang Văn Minh bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ lâu máu vẫn đỏ) Ý nhắc đến việc từ xưa đã nhiều lần người nước Nam chiển thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng. Câu đối lại của Giang Văn Minh thật là hoàn chỉnh, cả ý lẫn từ, lại thể hiện được khí phách hiên ngang anh hùng của dân tộc Việt Nam trước quân xâm lược. Tức giận vì bị làm bẽ mặt, bất chấp phép tắc ngoại gíao, vua Minh đã trả thù bằng cách trát đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Nhưng sau cảm phục khí phách can đảm anh hùng của sứ thần nước Nam, vua Minh cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân để đưa về quê xã Đường Lâm an táng. Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (Hà Nội). Hiện nay, ngôi mộ của Giang Văn Minh thường xuyên được du khách đến thăm viếng với lòng biết ơn, kính phục, ngưỡng mộ. Nhân ngày 27/7 chúng ta thành kính nghiêng mình thắp nén hương tưởng nhớ Giang Văn Minh vị anh hùng liệt sĩ huyền thoại. Chúng ta hãy tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ đã cảm tử cho Dân tộc Lạc Việt trường tồn, nhân ngày kỷ niệm thiêng liêng 27/7. Và người sống chúng ta sẽ phải sống thế nào để không hổ thẹn với những xương máu của biết bao thế hệ anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh, những hồn thiêng bất tử. Nhà nước cần phải có kế hoạch khẩn trương nạp kiến thức chuẩn mực cho thế hệ trẻ vì suy cho cùng xây chùa là cần nhưng cứu người lại càng cần hơn. “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” Đầu tháng 12 năm ngoái (2012), hướng tới kỷ niệm chào mừng 95 năm ngày thành lập trường, Ban giám hiệu trường THCS Trưng Vuơng (Hà Nội) kết hợp với bên “TGM – Tôi tài giỏi! Bạn cũng thế” tổ chức câu lạc bộ “Trái tim Trưng Vương”. Ý nghĩa việc thành lập câu lạc bộ “Trái tim Trưng Vương” là muốn tạo ra một đội tình nguyện viên hiểu sâu sắc về ngôi trường các em đang học: lịch sử, tổ chức, … để từ đó các em có thể giới thiệu về ngôi trường của mình khi tiếp đón các đoàn khách trong và ngoài nước. Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà – phó Hiệu trưởng nhà trường khai mạc Câu lạc bộ và giảng cho các em học sinh bài học về trái tim. Trong lời khai mạc của mình, cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà kể lại cho các em học sinh trong câu lạc bộ nghe câu chuyện về “Trái tim Đanko”, qua câu chuyện giúp các em thấy được ý nghĩa của chí khí anh hùng bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, tình yêu thương, đặc biệt là ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập thể. Trái tim Đanko là một phần trong tác phẩm nổi tiếng “Bà lão Idécghin” của Mác-xim Gorki. Chuyện kể rằng chàng Danko đã dũng cảm, xé toang lồng ngực móc trái tim mình ra giương lên cao như ngọn đuốc sáng giúp dân làng vượt qua vùng tăm tối để tới miền đất hứa. Tấm gương như sứ thần Giang Văn Minh và các liệt sĩ bao đời đã hy sinh vì dân tộc Việt soi đường cho muôn thế hệ. Việt Nam có phải là ‘miền đất hứa’? Trả lời câu hỏi này là tất cả người Việt chúng ta! Trước hết là vai trò và trách nhiệm của những người đang điều hành và quản lý đất nước. Câu chuyện về sự hy sinh can đảm của Giang Văn Minh có thể nhắc nhở nhiều điều. Đó là tấm gương sáng chói về tinh thần xả thân vì đất nước. Đó cũng là bài học lớn mà cha ông ta đã dạy về ý thức cảnh giác sẵn sàng đối phó với những thủ đoạn rất tàn bạo, rất bất ngờ của các thế lực bành trướng phương Bắc. Tưởng nhớ và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước không thể chỉ bằng các lời hứa suông mà phải bằng các hành động thiết thực. Chính bọn tham nhũng, các nhóm lợi ích đang làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu sức mạnh của dân, có thể nhắc nhở ta và làm chúng ta thấy xấu hổ, cảm thấy có lỗi với các bậc tiên liệt. Liệt sĩ vì nước hy sinh đời nào cũng có. Nhưng có những Anh hùng liệt sĩ làm nên những Anh hùng liệt sĩ, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu; có những quân thần giàu lòng yêu nước, tự trọng dân tộc và trí dũng song toàn như Giang Văn Minh…, tựu trung nhất là hình ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những liệt sĩ hy sinh cho nòi giống Việt Nam không bị đồng hóa, nhờ đó mà còn Tổ Quốc để cho các thế hệ nối tiếp hy sinh bảo vệ Tổ Quốc. Những liệt sĩ ấy thuộc bậc siêu phàm và hiển thánh! Theo Tô Văn Trường

    Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ

    TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

    Nghĩ về tượng Đức Thánh Trần ở Trường Sa Cập nhật lúc :10:55 AM, 05/06/2012 Việc dựng tượng Đức Thánh Trần, thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy nhất được nhân dân phong Thánh, tại Song Tử Tây, nơi đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa, là một việc làm thật có ý nghĩa! Đây một hành động mạnh mẽ trong quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh Việt Nam “có cứng mới đứng đầu gió”, gió Biển Đông! Ngọn gió của “bát ngát sóng kình muôn dặm”, “nước trời một sắc” nơi “sóng Hồng cuốn cuộn tuôn về Biển Đông” mà Trương Hán Siêu nói đến trong Bạch Đằng Giang phú: “Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Cũng là bãi biển xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”. “Ô Mã” đây chính là tên tướng Tàu xâm lược ở thế kỷ 13 từng khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng, nơi Hưng Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc đâm thủng thuyền giặc. Tượng Đức Thánh Trần tại đảo Song Tử Tây. Đúng là trong những trận quyết chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông cha ta, một quốc gia bán đảo với bờ biển dài 3.260km, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo. Hơn nữa, trong tâm thế Việt, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dạo ấy... và bất kỳ kẻ xâm lược nào đang lảng vảng ở Biển Đông hôm nay chắc sẽ vẫn còn nhớ đến bài học xưa. Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ... Ngay cây rừng cũng mọc rậm rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến... Con mắt và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều đó!” Ngẫm sâu vào tự tình dân tộc sẽ thấy rằng, trong cảm thức người Việt chúng ta, núi và biển có sức lay động thật mãnh liệt. Biểu tượng con Rồng, cháu Tiên từ huyền thoại Lạc Long - Âu Cơ ghi đậm không chỉ là hình tượng thăng hoa của nguồn cội, mà suy ngẫm cho kỹ, thì ra đây từng là sự lựa chọn của ông cha ta, hướng núi hay hướng biển? Dựa vào hình thể đất nước thì chọn hướng nào để phát triển? Trường Sa. Phải chăng truyền thuyết 50 người con theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển là một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi và hướng biển. Mà hướng biển xem ra có phần ưu trội vì trong mô hình mẫu hệ thì “mẹ Âu Cơ” chắc không phải là yếu thế hơn, nếu không là ngược lại. Chỉ có điều, ân huệ của biển rất nhiều song không dễ thụ hưởng, còn tai họa vì bão lụt do biển gây ra thì lại bạo liệt tàn khốc. Vì thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” và là yếu tố bảo thủ nhất, biến đổi chậm nhất theo thời gian, cùng với các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn “hướng núi”, dựa vào núi để mà mở nước phải chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng đừng vào buổi ấy mặc dù biển vẫn luôn vẫy gọi. Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ 17. Bản lĩnh đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam, hướng ra biển từ dải Hoành Sơn, tạo ra một thế phát triển mới. Tầm nhìn chiến lược, xuyên lịch sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của bậc danh sĩ thế kỷ 16 Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi Nguyễn Hoàng, đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm thế dân tộc: hướng ra biển. Nhưng cũng chính vì thế mà những thế lực bành trướng quyết chặn con đường biển của chúng ta, không muốn chúng ta mạnh lên, cản trở cho tham vọng bành trướng của chúng. Mà đâu chỉ phải hôm nay. Trong lịch sử, các đạo quân xâm lược tràn vào nước ta từ đường biển. Cho nên, ông cha ta không một khoảnh khắc lơi lỏng. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: năm 1161, Lý Anh Tông sai đô tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa. Năm 1171, vua đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào. Năm 1172, mùa Xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về. Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước? Và chính trên con đường biển ấy, bao thây xâm lược đã làm mồi cho cá. Trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán đánh dấu một bước trong tiến trình xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập là một ví dụ. Bình về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “Một vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!” . Quả đúng vậy! Trận quyết chiến chiến lược của quân dân đời Trần tháng ba năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông Bạch Đằng lịch sử này. Trong Nguyên sử, q.166, Phàn Tiếp truyện chép: “Kịch chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu”, tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên tính khốc liệt của cuộc chiến. Rõ ràng là vào thời điểm nhạy cảm như hiện nay, càng phải có ý thức thường trực về việc động viên tình cảm yêu nước của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm thất thoát hay để thui chột tình cảm ấy, vì những ứng xử tế nhị trên trường quốc tế mà cản trở việc tuổi trẻ thể hiện tình cảm yêu nước đó là có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất, từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn gấm vóc hôm nay. Việc dựng tượng Đức Thánh Trần tại Song Tử Tây của Trường Sa đầu sóng ngọn gió có ý nghĩa gợi nhớ bài học lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, đồng thời cũng biểu tỏ bản lĩnh Việt Nam trước mọi mưu toan của kẻ thù.

    14-3-1988 - TƯỞNG NHỚ CÁC ANH

    CÁC BẬC ANH HÙNG NƯỚC VIỆT

    Photobucket>

    Photobucket
    Gốc > TƯ LIỆU LICHI SỬ >

    Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt?

    Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt?

    23/06/2012 07:03:19

     - Nhiều người biết Vương Chiêu Quân là một trong “tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa cổ đại. Nhưng tại một làng quê nhỏ vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam cũng có một Vương Chiêu Quân mà đền thờ còn hiển hiện và thần tích còn ghi rõ.

    Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa…

    Theo các tài liệu lịch sử chính thống thì Chiêu Quân tên là Vương Tường, cũng được gọi là Vương Chiêu Quân, là con gái một gia đình thường dân ở Nam Quận, nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc, được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế.

    Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà đến kinh đô Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán. Ông đã được vua Hán Nguyên Đế ban cho 5 cung nữ, một trong số này là Vương Chiêu Quân.

    Theo Hậu Hán Thư thì trong suốt thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa hề được gặp mặt nhà vua. Đến khi được triệu kiến để chuẩn bị sang Hung Nô, sắc đẹp của nàng đã khiến Hán Nguyên Đế sững sờ muốn đổi ý, nhưng không được.

    Tranh vẽ Vương Chiêu Quân
    Tranh vẽ Vương Chiêu Quân

    Chiêu Quân trở thành vợ Hô Hàn Tà và sinh được 2 trai, 1 gái.

    Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề, con trai lớn của Hô Hàn Tà với người vợ trước.

    Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có 2 người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Trủng", Nội Mông. 

    Xung quanh nhân vật Vương Chiêu Quân, trong dân gian còn tồn tại rất nhiều giai thoại và truyền thuyết. Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ đã trở thành một điển tích trong văn học Trung Hoa cổ đại.

    … quê ở Thái Bình?

    Tôi tình cờ đến làng Diêm Tỉnh, xã Thụy Dũng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình - một làng quê nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ vào đúng ngày hội của làng, 13 tháng 3 Âm lịch.

    Tại đây, tôi đã rất bất ngờ khi được cụ Hoàng Ngọc Phin, năm nay 84 tuổi mời đến dự hội với lời giới thiệu: “Hôm nay là ngày sinh của Bà Chúa Vương Chiêu Quân người làng này. Vì vậy, ban tế toàn là nữ và sẽ có màn tế Nữ Quan”. 

    Nghĩ đến một sự trùng tên nên tôi hỏi lại: “Có phải Chiêu Quân cống Hồ không? Bà ấy ở Trung Quốc cơ mà” thì cụ Phin khẳng định: “Đúng là Chiêu Quân cống Hồ đấy, nhưng là người làng này”.

    Thấy tôi một mực không tin, cụ lấy từ trong tủ ra một cuốn sách mỏng sách bằng giấy bản đã ố vàng, mép nhiều trang đã sờn, dày đặc chữ Nho và bảo: “Bác không tin thì xem đây. Đây là bản Thần tích ghi chép về Bà Chúa mà làng tôi đã lưu giữ mấy trăm năm nay rồi. Ngoài ra còn bản sắc phong từ thời Khải Định nữa”.

    Cụ Phin và cuốn Thần tích
    Cụ Phin và cuốn Thần tích

    Chỉ tay vào dòng chữ trên trang ngoài cùng, cụ rành giọt giải nghĩa luôn: “Ở đây viết rõ là cuốn Thần tích này được chép lại từ năm đầu triều Lê Chiêu Thống (1786). Đến năm Khải Định thứ tám triều Nguyễn (1924) thì sửa lại”.

    Theo Thần tích thì vào thời thuộc Hán, ở “phủ Hạ bát đụn tang” (tám cái gò cao nổi lên ở vùng Hạ - người dân Diêm Tỉnh coi quê mình nằm trong vùng đó) có ông Vương Thức người nước Nam, thời trẻ học rộng biết nhiều được cử làm Kim Thành thái thú, sau về Lâm Ấp, có vợ là Phạm Thị Dụ.

    Đêm 12 tháng 3, bà nằm mộng thấy con rắn cuốn, sau sinh quý nữ. Lúc sinh ra, hương thơm bay ngào ngạt, có 3 con rồng xuất hiện trên bầu trời. Cũng ngày đó, ở kinh đô có 3 tiếng động lớn kinh động sơn hà, hàng đàn muông thú kéo về. Vương Thức đặt tên con là Vương Tường. Lớn lên đóng cửa học hành, môn gì cũng giỏi. Năm 14 tuổi được coi là bậc “quốc sắc thiên hương”, không ai so được.

    Đời Hán đế, ngày 8 tháng 1, Hoàng đế nằm mơ thấy một ông tiên cho biết ở phía Nam xuất hiện một người con gái kỳ tài, có một không hai (hộ quốc tý dân, trung trinh vô nhị) tại nhà quan Thái thú. Sáng hôm sau vua hội bá quan kể lại giấc mơ. Triều đình thảo luận rồi cử Diên Thọ đến tận nơi xem xét, họa lại chân dung đem về báo cáo.

    Diên Thọ đến gặp, Vương Tường không tiếp mà cứ ngồi đọc sách. Sau đó tự mình vẽ chân dung rồi gửi cho Diên Thọ mang về. Nhận được chân dung, Hán đế triệu Vương Thức về gặp và hậu thưởng cho các bậc cao niên. Sau đó lệnh đưa Vương Tường vào cung, đặt tên là Chiêu Quân.

    Diên Thọ bực tức vì nàng đã lạnh nhạt với mình nên đưa bức tranh vẽ Chiêu Quân ngầm giới thiệu với vua Hồ. Vua Hồ đòi Hán đế phải gả cho người trong tranh. Vì bang giao hai nước, Hán đế phải đồng ý.

    Sang Hồ, Chiêu Quân có một cái áo bảo vệ nên Hồ vương không thể gần gũi được. Nàng bảo phải kiên trì, 16 năm sau mới được gần gũi. Một hôm, Chiêu Quân yêu cầu xây một cây cầu nổi. Cầu xây xong, rất nhiều cá và rồng hiện về. Có một con rồng vàng dài hơn một trượng hiện ra, nàng liền theo đó đi mất.

    Sắc phong
    Sắc phong

    Năm Vĩnh Hựu (triều Lê Ý Tông, 1735- 1740), Chiêu Quân được phong “Hiển linh tạ thuận thiên vi thái tỷ công chúa”, được thờ ở 12 đền trong “Bát đụn tang”. Thần tích còn ghi rõ bà sinh ngày 12 tháng 3, mất ngày 13 tháng 12. Vào hai ngày này, người dân thôn Diêm Tỉnh tổ chức Lễ hội tại đền Bà Chúa.

    Vùng đất mỹ nhân một thuở

    Theo lời cụ Phin thì đền Bà Chúa đã có từ xưa lắm rồi. Hàng năm hội đền được tổ chức rất trang nghiêm, thành kính. Anh Hoàng Ngọc Lễ, con trai cụ Phin còn cho biết: “Ngày trước, ở sân đền có một cây đa to lắm, phải đến hàng chục người ôm. Sau này, cây bị sét đánh chết mất. Ngày trước, con gái làng này đẹp nổi tiếng cả vùng. Bây giờ thì không được như xưa nữa”. 

    Đền Bà Chúa
    Đền Bà Chúa

    Khi tôi cùng cụ Phin ra đền, nghi lễ dâng hương đang diễn ra. Điều đặc biệt ở lễ hội này là trừ đoàn đại biểu chính quyền và các cụ phụ lão là có nam giới, còn lại tất cả những người vào làm lễ dâng hương đều là nữ.

    Tôi tranh thủ quan sát ngôi đền, tuy mới được tu tạo song các đường nét đều tinh xảo và cổ kính. Trên nóc đền là hình lưỡng long chầu nguyệt, hiên trước của đền là 3 chữ “Tạc quyết linh”- nghĩa là nơi linh thiêng. Trên hai cột chính trước cửa là đôi câu đối bằng chữ Hán: “Nam thổ giáng sinh phù đế mộng; Bắc phương tuyệt sắc hiển thần cơ”, theo cụ Phin nghĩa là: “Sinh ra tại nước Nam ứng với giấc mộng của nhà vua; Là bậc tuyệt sắc ở xứ Bắc hiển hiện do thần linh”.

    Lễ dâng hương tại đền Bà Chúa
    Lễ dâng hương tại đền Bà Chúa

    Trong đền, nổi bật trên ban thờ là bức đại tự có 4 chữ “Quốc sắc thiên hương”  và mấy đôi câu đối nữa. Nội dung các câu đối này đều ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và sự hiển linh của Bà Chúa. Trong đó có đôi câu đối chỉ rõ dân Diêm Tỉnh phải thường xuyên cúng lễ vào các dịp tuần tiết: “Diêm hải ba thương tình đại tiết; Tỉnh điền địa di tự thường nghi”.

    Trong hậu cung, bên trong khám thờ che rèm kín là bức tượng của Bà Chúa. Không biết tượng được tạc bao giờ song vẫn toát lên vẻ đẹp tinh khôi, cao quý của một trang tuyệt sắc. 

    Hậu duệ của Bà Chúa
    Hậu duệ của Bà Chúa

    Đúng 9 giờ, màn tế “Nữ Quan”, nghi thức chính của lễ hội bắt đầu. Trong tiếng nhạc réo rắt, 17 cô gái trong trang phục truyền thống nhiều màu sắc sắp thành hai hàng, do một nữ quan dẫn đầu trang trọng tiến vào. Đắm mình trong tiếng nhạc, lời ca và không khí tưng bừng, tôi cứ bâng khuâng tự hỏi: “Phải chăng có thật một Vương Chiêu Quân ở xứ này?”.

    Nguyễn Khắc Nguyệt


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗtấn Thanh @ 08:33 27/06/2012
    Số lượt xem: 561
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Photobucket Photobucket

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    BỤI PHẤN


    MỜI BẠN CÙNG ĐI DU LỊCH

    2. Có thể thay đổi kích thước : 3. Thêm các thông tin về tour du lịch : 4. Thay đổi khoảng thời gian giữa hai bức ảnh : 5. Nhúng bằng iframe






    Anh giờ này đang xa cách ngàn phương

    Những bình yên có hay không khi mình thôi chung hướng?

    Trao trả lại nhau những gì ta cho là quá khứ

    Và mỗi người tìm một chốn bình yên.

    Chao.






    ht hoa phuong


    cuc



    NỖI BUỒN HOA PHƯƠNG!! ...


    Khi con ve nhỏ râm rang
    Phượng hồng chớm nở, trường tan, bùi ngùi
    Nắng trưa, đường vắng bóng người
    Dõi theo áo trắng, đỏ trời phượng ơi !

    Ước gì mình được chung đôi
    Để cho lòng khỏi mồ côi tháng hè
    Trăm lần muốn nói... im re !
    Để rồi tự trách... con Ve lắm lời

    Ngày mai Trường đóng cửa rồi
    Ta về nhặt cánh phượng rơi... đỡ buồn !


    cuc