CHUÀ MỘT CỘT

THỜI GIAN KHÔNG CHỜ ĐỢI

QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Tài nguyên dạy học

DANH NGÔN

Photobucket

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Toitinh1.swf EMVEVOINGUOI.swf DANGNGOC2.swf HOANG_MANG.swf NGUOI_DIQUADOITOI.swf HMLC.swf HAI_CHUYEN_TAU_DEM1.swf Netsonbuon.swf KHONGTENCUOI.swf Hoahoctro.swf Tam_su_nang_bu_ram.swf Website_Thanh_Huyen_Chieng_An_junior_high_school_2.swf Vao_ha1.swf Valentine2013.swf Thiep11.swf CMNM.jpg Untitled11.swf Happy_new_year.swf

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEB

    Sắp xếp dữ liệu

    KHÁCH Online

    THỜI TIẾT


    Power by

    KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7

    LỜI RU NGỌN CỎ * Bùi Văn Bồng Cỏ xanh bên mộ khẽ ru À ơi! Rừng đã vào thu lá vàng Dấu chân quy tập muộn màng Mộ còn nằm với cỏ hoang rừng già Nơi đây nhiều cỏ ít hoa Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh. Bao năm vững bước quân hành Lá rừng vẫy gió rung cành ngụy trang Giờ đây giữa cánh rừng hoang Hồn thiêng khao khát khói nhang trong chiều Nắng xiên xiên, gió xiêu xiêu Để cho lá cỏ xanh theo hồn người. Mùa thu đầy lá vàng rơi Mùa đông trắng xóa chân trời sương giăng Hồn thiêng gọi lá thắm rừng Giọt sương mai cũng đọng ngưng nỗi niềm Đọng ngưng từng hạt sương rơi Là khi lá cỏ gọi đời lên xanh Người hy sinh, đất hồi sinh Trái tim hoá ngọc lung linh đất trời. Lời ru ấm nắng. Người ơi! Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời Thương đau ru đến muôn đời Và xanh, xanh mãi để lời ru êm Cho dù ai đó lãng quên Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.

    KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7

    VINH DANH MỘT SỨ THẦN NƯỚC NAM Giang Văn Minh sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây (Hà Nội). Giang Văn Minh học giỏi, đỗ đạt cao làm quan Triều Lê nổi tiêng thanh liêm, cương trực và ứng đối giỏi. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa, khoa thi Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Ở Thái Bình quê tôi, trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh. Nơi ông sinh ra ở xã Đường Lâm cũng là quê hương của 2 vị vua nổi tiếng thời xưa là Phùng Hưng-Bố Cái Đại Vương và vua Ngô Quyền. Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông được vua Lê cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Đến khi triều kiến, Minh Tự Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vừa tìm cách ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê vừa ngạo mạn có ý coi thường Giang Văn Minh và muốn hạ nhục đoàn sứ thần nước Nam nên ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!” ( Cột đồng đến nay rêu vẫn còn xanh) Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nguiã Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại Việt – bị diệt vong). Sứ thần nước Nam, Giang Văn Minh bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ lâu máu vẫn đỏ) Ý nhắc đến việc từ xưa đã nhiều lần người nước Nam chiển thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng. Câu đối lại của Giang Văn Minh thật là hoàn chỉnh, cả ý lẫn từ, lại thể hiện được khí phách hiên ngang anh hùng của dân tộc Việt Nam trước quân xâm lược. Tức giận vì bị làm bẽ mặt, bất chấp phép tắc ngoại gíao, vua Minh đã trả thù bằng cách trát đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Nhưng sau cảm phục khí phách can đảm anh hùng của sứ thần nước Nam, vua Minh cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân để đưa về quê xã Đường Lâm an táng. Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (Hà Nội). Hiện nay, ngôi mộ của Giang Văn Minh thường xuyên được du khách đến thăm viếng với lòng biết ơn, kính phục, ngưỡng mộ. Nhân ngày 27/7 chúng ta thành kính nghiêng mình thắp nén hương tưởng nhớ Giang Văn Minh vị anh hùng liệt sĩ huyền thoại. Chúng ta hãy tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ đã cảm tử cho Dân tộc Lạc Việt trường tồn, nhân ngày kỷ niệm thiêng liêng 27/7. Và người sống chúng ta sẽ phải sống thế nào để không hổ thẹn với những xương máu của biết bao thế hệ anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh, những hồn thiêng bất tử. Nhà nước cần phải có kế hoạch khẩn trương nạp kiến thức chuẩn mực cho thế hệ trẻ vì suy cho cùng xây chùa là cần nhưng cứu người lại càng cần hơn. “Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” Đầu tháng 12 năm ngoái (2012), hướng tới kỷ niệm chào mừng 95 năm ngày thành lập trường, Ban giám hiệu trường THCS Trưng Vuơng (Hà Nội) kết hợp với bên “TGM – Tôi tài giỏi! Bạn cũng thế” tổ chức câu lạc bộ “Trái tim Trưng Vương”. Ý nghĩa việc thành lập câu lạc bộ “Trái tim Trưng Vương” là muốn tạo ra một đội tình nguyện viên hiểu sâu sắc về ngôi trường các em đang học: lịch sử, tổ chức, … để từ đó các em có thể giới thiệu về ngôi trường của mình khi tiếp đón các đoàn khách trong và ngoài nước. Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà – phó Hiệu trưởng nhà trường khai mạc Câu lạc bộ và giảng cho các em học sinh bài học về trái tim. Trong lời khai mạc của mình, cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà kể lại cho các em học sinh trong câu lạc bộ nghe câu chuyện về “Trái tim Đanko”, qua câu chuyện giúp các em thấy được ý nghĩa của chí khí anh hùng bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, tình yêu thương, đặc biệt là ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập thể. Trái tim Đanko là một phần trong tác phẩm nổi tiếng “Bà lão Idécghin” của Mác-xim Gorki. Chuyện kể rằng chàng Danko đã dũng cảm, xé toang lồng ngực móc trái tim mình ra giương lên cao như ngọn đuốc sáng giúp dân làng vượt qua vùng tăm tối để tới miền đất hứa. Tấm gương như sứ thần Giang Văn Minh và các liệt sĩ bao đời đã hy sinh vì dân tộc Việt soi đường cho muôn thế hệ. Việt Nam có phải là ‘miền đất hứa’? Trả lời câu hỏi này là tất cả người Việt chúng ta! Trước hết là vai trò và trách nhiệm của những người đang điều hành và quản lý đất nước. Câu chuyện về sự hy sinh can đảm của Giang Văn Minh có thể nhắc nhở nhiều điều. Đó là tấm gương sáng chói về tinh thần xả thân vì đất nước. Đó cũng là bài học lớn mà cha ông ta đã dạy về ý thức cảnh giác sẵn sàng đối phó với những thủ đoạn rất tàn bạo, rất bất ngờ của các thế lực bành trướng phương Bắc. Tưởng nhớ và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước không thể chỉ bằng các lời hứa suông mà phải bằng các hành động thiết thực. Chính bọn tham nhũng, các nhóm lợi ích đang làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu sức mạnh của dân, có thể nhắc nhở ta và làm chúng ta thấy xấu hổ, cảm thấy có lỗi với các bậc tiên liệt. Liệt sĩ vì nước hy sinh đời nào cũng có. Nhưng có những Anh hùng liệt sĩ làm nên những Anh hùng liệt sĩ, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu; có những quân thần giàu lòng yêu nước, tự trọng dân tộc và trí dũng song toàn như Giang Văn Minh…, tựu trung nhất là hình ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những liệt sĩ hy sinh cho nòi giống Việt Nam không bị đồng hóa, nhờ đó mà còn Tổ Quốc để cho các thế hệ nối tiếp hy sinh bảo vệ Tổ Quốc. Những liệt sĩ ấy thuộc bậc siêu phàm và hiển thánh! Theo Tô Văn Trường

    Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ

    TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

    Nghĩ về tượng Đức Thánh Trần ở Trường Sa Cập nhật lúc :10:55 AM, 05/06/2012 Việc dựng tượng Đức Thánh Trần, thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy nhất được nhân dân phong Thánh, tại Song Tử Tây, nơi đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa, là một việc làm thật có ý nghĩa! Đây một hành động mạnh mẽ trong quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh Việt Nam “có cứng mới đứng đầu gió”, gió Biển Đông! Ngọn gió của “bát ngát sóng kình muôn dặm”, “nước trời một sắc” nơi “sóng Hồng cuốn cuộn tuôn về Biển Đông” mà Trương Hán Siêu nói đến trong Bạch Đằng Giang phú: “Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Cũng là bãi biển xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”. “Ô Mã” đây chính là tên tướng Tàu xâm lược ở thế kỷ 13 từng khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng, nơi Hưng Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc đâm thủng thuyền giặc. Tượng Đức Thánh Trần tại đảo Song Tử Tây. Đúng là trong những trận quyết chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông cha ta, một quốc gia bán đảo với bờ biển dài 3.260km, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo. Hơn nữa, trong tâm thế Việt, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dạo ấy... và bất kỳ kẻ xâm lược nào đang lảng vảng ở Biển Đông hôm nay chắc sẽ vẫn còn nhớ đến bài học xưa. Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ... Ngay cây rừng cũng mọc rậm rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến... Con mắt và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều đó!” Ngẫm sâu vào tự tình dân tộc sẽ thấy rằng, trong cảm thức người Việt chúng ta, núi và biển có sức lay động thật mãnh liệt. Biểu tượng con Rồng, cháu Tiên từ huyền thoại Lạc Long - Âu Cơ ghi đậm không chỉ là hình tượng thăng hoa của nguồn cội, mà suy ngẫm cho kỹ, thì ra đây từng là sự lựa chọn của ông cha ta, hướng núi hay hướng biển? Dựa vào hình thể đất nước thì chọn hướng nào để phát triển? Trường Sa. Phải chăng truyền thuyết 50 người con theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển là một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi và hướng biển. Mà hướng biển xem ra có phần ưu trội vì trong mô hình mẫu hệ thì “mẹ Âu Cơ” chắc không phải là yếu thế hơn, nếu không là ngược lại. Chỉ có điều, ân huệ của biển rất nhiều song không dễ thụ hưởng, còn tai họa vì bão lụt do biển gây ra thì lại bạo liệt tàn khốc. Vì thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” và là yếu tố bảo thủ nhất, biến đổi chậm nhất theo thời gian, cùng với các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn “hướng núi”, dựa vào núi để mà mở nước phải chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng đừng vào buổi ấy mặc dù biển vẫn luôn vẫy gọi. Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ 17. Bản lĩnh đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam, hướng ra biển từ dải Hoành Sơn, tạo ra một thế phát triển mới. Tầm nhìn chiến lược, xuyên lịch sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của bậc danh sĩ thế kỷ 16 Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi Nguyễn Hoàng, đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm thế dân tộc: hướng ra biển. Nhưng cũng chính vì thế mà những thế lực bành trướng quyết chặn con đường biển của chúng ta, không muốn chúng ta mạnh lên, cản trở cho tham vọng bành trướng của chúng. Mà đâu chỉ phải hôm nay. Trong lịch sử, các đạo quân xâm lược tràn vào nước ta từ đường biển. Cho nên, ông cha ta không một khoảnh khắc lơi lỏng. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: năm 1161, Lý Anh Tông sai đô tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa. Năm 1171, vua đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào. Năm 1172, mùa Xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về. Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước? Và chính trên con đường biển ấy, bao thây xâm lược đã làm mồi cho cá. Trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán đánh dấu một bước trong tiến trình xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập là một ví dụ. Bình về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “Một vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!” . Quả đúng vậy! Trận quyết chiến chiến lược của quân dân đời Trần tháng ba năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông Bạch Đằng lịch sử này. Trong Nguyên sử, q.166, Phàn Tiếp truyện chép: “Kịch chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu”, tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên tính khốc liệt của cuộc chiến. Rõ ràng là vào thời điểm nhạy cảm như hiện nay, càng phải có ý thức thường trực về việc động viên tình cảm yêu nước của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm thất thoát hay để thui chột tình cảm ấy, vì những ứng xử tế nhị trên trường quốc tế mà cản trở việc tuổi trẻ thể hiện tình cảm yêu nước đó là có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất, từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn gấm vóc hôm nay. Việc dựng tượng Đức Thánh Trần tại Song Tử Tây của Trường Sa đầu sóng ngọn gió có ý nghĩa gợi nhớ bài học lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, đồng thời cũng biểu tỏ bản lĩnh Việt Nam trước mọi mưu toan của kẻ thù.

    14-3-1988 - TƯỞNG NHỚ CÁC ANH

    CÁC BẬC ANH HÙNG NƯỚC VIỆT

    Photobucket>

    Photobucket
    Gốc > TIN NÓNG >

    Xem xét quá trình quy thuộc Nam Hải (Biển Đông) qua các bản đồ từ cuối đời nhà Thanh đến (Trung Hoa) Dân quốc (Phần 1)

    Xem xét quá trình quy thuộc Nam Hải (Biển Đông) qua các bản đồ từ cuối đời nhà Thanh đến (Trung Hoa) Dân quốc (Phần 1)

     

    Xem xét quá trình quy thuộc Nam Hải (Biển Đông) qua các bản đồ từ cuối đời nhà Thanh đến (Trung Hoa) Dân quốc (Phần 1) *

    1-5-2012

    Tác giả: Nibelungen Schnecke Weinstock (tạm để tên tiếng Đức; tên theo bản gốc: 尼伯龙根·蜗藤)

    Người dịch:  Quốc Thanh

    Trước thế kỉ 20

    1)  Trước tiên xin chia sẻ một tấm bản đồ thời Đại Thanh năm 1760. Tấm “Thanh Đại Nhất Thống Địa Đồ” này về cơ bản thuyết minh cương vực thời kì Đại Thanh. Theo hiển thị trên bản đồ thì cương giới phía nam của Trung Quốc kết thúc ở đảo Hải Nam.

     

    2)  Đại Thanh Nhất Thống Thiên Hạ Toàn đồ (năm 1818) do Chu Tích Linh vẽ. (Từ “Địa đồ Trung Quốc”, Thư viện Đại học Hongkong, năm 2003). Bản đồ này là tấm bản đồ về cương giới quốc gia theo ý nghĩa hiện đại hiếm gặp trong số các bản đồ cũ của Trung Quốc. Toàn bộ khu vực sở thuộc và đường biên giới của Trung Quốc được viền màu đỏ. Thế là có thể nhìn trên tấm bản đồ này rất rõ đâu là lãnh thổ Trung Quốc, đâu không phải là lãnh thổ Trung Quốc. Kim Môn, Hạ Môn và đảo Hải Nam đều dùng màu đỏ vẽ liền với đại lục, còn Đài Loan và quần đảo Đan Sơn thì được khoanh tròn riêng bằng màu đỏ, để chứng tỏ là một phần của Trung Quốc. Trên bản đồ có xuất hiện hai cái tên Vạn Lý Trường Sa (万里长沙; tức Nam Sa theo cách gọi hiện giờ của Trung Quốc -ND) và Thiên Lý Thạch Đường (千里石塘; tức Tây Sa theo cách gọi hiện giờ của Trung Quốc -ND), nhưng những địa danh này cùng với Johor, Mãn Thích Gia (Anh: Strait of Malacca; Malai: Selat Melaka) vàSrivijaya…đều nằm ngoài cương giới lãnh thổ Trung Quốc. Tất nhiên, chúng ta còn có thể nhìn thấy được cả những hòn đảo nhỏ ở ngoài khơi Quảng Đông như Nhai Sơn và Hổ Đầu Môn…không nằm ở ngoài cương giới lãnh thổ Trung Quốc.

    3)  Hải Quốc Đồ Chí (năm 1852)

    “Hải Quốc Đồ Chí” là cuốn thư tịch địa lí thế giới do Ngụy Nguyên biên soạn. Trong cách diên đồ của các nước Đông Nam Dương (biển Đông Nam) ở sách này có xuất hiện các địa danh Vạn Lý Trường Sa  và Thiên Lý Thạch Đường. Một phần cuốn sách đã dẫn tấm bản đồ này làm chứng cứ cho chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa. Luận cứ này không thể xác lập được, bởi vì: 1) Tên bản đồ chỉ chính xác đây là bản đồ Đông Nam Á;  2) Trên bản đồ ngoài Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Đường còn có rất nhiều nước Đông Nam Á; 3) Trên bản đồ, hai nơi này bị nhiều nước Đông Nam Á vây quanh, thực sự là không nhìn thấy trên bản đồ có bất cứ kí hiệu gì mang ý nghĩa hai nơi này là thuộc Trung Quốc. Cho nên, tấm bản đồ này không hề nói rõ vị trí của Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Đường.

    4)  Quảng Đông Đồ năm 1866

    Chính phủ Dân quốc luôn tuyên bố xét về lịch sử, các quần đảo ở Nam Hải là một phần của Quảng Đông. Vì thế, bản đồ Quảng Đông cũng có sự trợ giúp rất lớn trong việc biện minh sự thực. Quảng Đông Đồ năm 1866 là tập bản đồ chi tiết về khu vực Quảng Đông. Tập bản đồ này hiển thị đất thuộc Quảng Đông chỉ bao gồm Hải Nam và các đảo ngoài khơi Quảng Đông, thậm chí còn không bao gồm cả Đông Sa.

    Hình dạng lãnh thổ Trung Quốc trên các bản đồ Trung Quốc trước năm 1900 về đại thể là chuẩn xác, còn các bản đồ ngoài biển thì hoàn toàn không có cách gì để so đọ được theo cách nhìn hiện đại. Lấy Hải Ngoại Đồ Chí của Ngụy Nguyên làm ví dụ, hầu như tất cả các nước và khu vực ở Đông Nam Á đều được vẽ không chuẩn xác. Điều này phản ánh Trung Quốc còn thiếu sự hiểu biết về Nam Hải. Sự hiểu biết về địa lí Nam Hải của Trung Quốc còn kém xa so với các nước Phương Tây. Khoảng tới thế kỉ 20 (không rõ năm cụ thể), các bản đồ liên quan tới Nam Hải do Trung Quốc xuất bản mới ăn nhập được với các nước, mới đi vào “hiện đại hóa”, đương nhiên là phỏng theo các thư tịch tư liệu do các nước nghiên cứu.

    Thế kỉ 20

    5)  Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ (năm 1905). Bản đồ này được lựa chọn từ “Trung Quốc Cổ Địa Đồ Trân Tập”, Nhà xuất bản bản đồ Tây An, năm 1995. Cương giới phía Nam của Trung Quốc trên bản đồ chỉ tới đảo Hải Nam.

    6)  Năm 1908, “Trung Quốc Cận Thế Dư Địa Đồ” do La Nhữ Nam biên soạn, đây là một bộ trước tác địa lí học đồ sộ của Trung gồm 8 tập 23 quyển. Có mấy điểm cần đặc biệt chú ý: 1) Trong bộ sách dành phần lớn chú trọng đề cập tới việc bảo vệ vùng biển của Trung Quốc, vì thế tác giả không được bỏ qua các nhân vật bảo vệ vùng biển; 2) Tác giả tỏ ra hiểu biết nhiều về địa lí Quảng Đông hơn; 3) Tác giả dành một phần lớn để giới thiệu địa lí học (Phương Tây), hiển nhiên là với sự góp sức của một số người nhất định có vốn học thuật hiện đại. Văn tự trong sách này viết rõ rằng cương giới phía nam của Trung Quốc là ở đầu mút nam đảo Hải Nam, dù là trên Trung Quốc Toàn Đồ hay trên Quảng Đông Địa Đồ cũng đều không tìm thấy có các đảo ở Nam Hải.

    7)  Nhị Thập Thế Kỉ Trung Ngoại Đại Địa Đồ (năm 1908). Trong tập bản đồ này, cương giới phía nam của Trung Quốc cũng chỉ tới đầu mút nam đảo Hải Nam. Ở bản đồ Châu Á trong tập bản đồ này hoàn toàn không thấy có đánh dấu các đảo ở Nam Hải. Còn phần lớn các bản đồ trên thế giới cùng thời kì ấy đều có đánh dấu các đảo ở Nam Hải nằm trong đó. Trái lại, quần đảo Andaman của Ấn Độ và quần đảo Natuna của Nam Hải lại đều có xuất hiện trên các bản đồ này. Tập bản đồ này gồm 2 quyền Thượng và Hạ, quyển Hạ là phần bản đồ thế giới, nhưng đáng tiếc là tôi không tìm được, nếu không thì sẽ có thể biết được Trung Quốc khi ấy đã vẽ Đông Nam Á ra sao.

    8)  Năm 1909, Quảng Đông Dư Địa Toàn Đồ. Tấm bản đồ này hết sức quan trọng. Đây là tấm bản đồ vẽ Tây Sa và Đông Sa vào trong lãnh thổ Trung Quốc sớm nhất trong số những bản đồ vào cuối triều Thanh mà tôi được thấy. Năm 1909, Lý Chuẩn tuyên bố chủ quyền đối với Tây Sa, đây là lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố và thừa hành chủ quyền đối với Tây Sa kể từ thời cận đại. Bản đồ này phản ánh đầy đủ tiến trình lịch sử khi ấy. Trên bản đồ còn có cả Đông Sa. Đáng chú ý là, mặc dù tấm bản đồ này phản ánh ước muốn của Trung Quốc đối với lãnh thổ Nam Hải, nhưng trên bản đồ lại không thấy có các quần đảo Trung Sa và Nam Sa, điều này nói lên hai quần đảo này khi ấy vẫn chưa đi vào tầm ngắm của đế quốc Đại Thanh.

    Xin tóm tắt, xét từ các bản đồ mà tôi đã sưu tập được, trước năm 1909, Trung Quốc không vẽ quần đảo Nam Sa với danh nghĩa là một phần của Trung Quốc hoặc tỉnh Quảng Đông vào trong bản đồ Trung Quốc. Năm 1909, sau chuyến đi tới Tây Sa của Lý Chuẩn, Tây Sa mới bắt đầu được chính quyền Trung Quốc và trong dân gian coi là một phần của Trung Quốc. Còn Nam Sa và Trung Sa thì vẫn chưa được bất cứ một bản đồ nào đưa vào trong lãnh thổ của Trung Quốc.

    Nguồn: dddnibelungen.wordpress.com 从晚清到民国的地图看南海归属(一)


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗtấn Thanh @ 06:53 10/08/2012
    Số lượt xem: 299
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Photobucket Photobucket

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    BỤI PHẤN


    MỜI BẠN CÙNG ĐI DU LỊCH

    2. Có thể thay đổi kích thước : 3. Thêm các thông tin về tour du lịch : 4. Thay đổi khoảng thời gian giữa hai bức ảnh : 5. Nhúng bằng iframe






    Anh giờ này đang xa cách ngàn phương

    Những bình yên có hay không khi mình thôi chung hướng?

    Trao trả lại nhau những gì ta cho là quá khứ

    Và mỗi người tìm một chốn bình yên.

    Chao.






    ht hoa phuong


    cuc



    NỖI BUỒN HOA PHƯƠNG!! ...


    Khi con ve nhỏ râm rang
    Phượng hồng chớm nở, trường tan, bùi ngùi
    Nắng trưa, đường vắng bóng người
    Dõi theo áo trắng, đỏ trời phượng ơi !

    Ước gì mình được chung đôi
    Để cho lòng khỏi mồ côi tháng hè
    Trăm lần muốn nói... im re !
    Để rồi tự trách... con Ve lắm lời

    Ngày mai Trường đóng cửa rồi
    Ta về nhặt cánh phượng rơi... đỡ buồn !


    cuc