KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7
KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7
Giang Văn Minh sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông
Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây
trước năm 1945, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn
Tây (Hà Nội). Giang Văn Minh học giỏi, đỗ đạt cao
làm quan Triều Lê nổi tiêng thanh liêm, cương trực và
ứng đối giỏi. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi
thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa, khoa thi Mậu
Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Ở
Thái Bình quê tôi, trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở
thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái
Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2
(1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa
Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại
phu, Thái bộc tự khanh. Nơi ông sinh ra ở xã Đường
Lâm cũng là quê hương của 2 vị vua nổi tiếng thời
xưa là Phùng Hưng-Bố Cái Đại Vương và vua Ngô
Quyền. Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông
được vua Lê cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu
phong và tuế cống nhà Minh. Đến khi triều kiến, Minh
Tự Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vừa
tìm cách ngăn trở việc công nhận sự chính thống
của nhà Hậu Lê vừa ngạo mạn có ý coi thường Giang
Văn Minh và muốn hạ nhục đoàn sứ thần nước Nam
nên ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!”
( Cột đồng đến nay rêu vẫn còn xanh) Câu này có hàm
ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi
nguiã Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột
đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại
Việt – bị diệt vong). Sứ thần nước Nam, Giang Văn
Minh bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết
do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ lâu máu vẫn đỏ) Ý
nhắc đến việc từ xưa đã nhiều lần người nước
Nam chiển thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc
trên sông Bạch Đằng. Câu đối lại của Giang Văn Minh
thật là hoàn chỉnh, cả ý lẫn từ, lại thể hiện
được khí phách hiên ngang anh hùng của dân tộc Việt
Nam trước quân xâm lược. Tức giận vì bị làm bẽ
mặt, bất chấp phép tắc ngoại gíao, vua Minh đã trả
thù bằng cách trát đường vào miệng và mắt ông,
rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to
gan lớn mật đến đâu”. Nhưng sau cảm phục khí
phách can đảm anh hùng của sứ thần nước Nam, vua Minh
cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân để
đưa về quê xã Đường Lâm an táng. Ở Hà Nội hiện
nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với
phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (Hà Nội).
Hiện nay, ngôi mộ của Giang Văn Minh thường xuyên
được du khách đến thăm viếng với lòng biết ơn,
kính phục, ngưỡng mộ. Nhân ngày 27/7 chúng ta thành
kính nghiêng mình thắp nén hương tưởng nhớ Giang Văn
Minh vị anh hùng liệt sĩ huyền thoại. Chúng ta hãy
tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ đã cảm tử cho
Dân tộc Lạc Việt trường tồn, nhân ngày kỷ niệm
thiêng liêng 27/7. Và người sống chúng ta sẽ phải
sống thế nào để không hổ thẹn với những xương
máu của biết bao thế hệ anh hùng, liệt sĩ đã hy
sinh, những hồn thiêng bất tử. Nhà nước cần phải
có kế hoạch khẩn trương nạp kiến thức chuẩn mực
cho thế hệ trẻ vì suy cho cùng xây chùa là cần nhưng
cứu người lại càng cần hơn.
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” Đầu tháng 12
năm ngoái (2012), hướng tới kỷ niệm chào mừng 95 năm
ngày thành lập trường, Ban giám hiệu trường THCS
Trưng Vuơng (Hà Nội) kết hợp với bên “TGM – Tôi
tài giỏi! Bạn cũng thế” tổ chức câu lạc bộ
“Trái tim Trưng Vương”. Ý nghĩa việc thành lập câu
lạc bộ “Trái tim Trưng Vương” là muốn tạo ra một
đội tình nguyện viên hiểu sâu sắc về ngôi trường
các em đang học: lịch sử, tổ chức, … để từ đó
các em có thể giới thiệu về ngôi trường của mình
khi tiếp đón các đoàn khách trong và ngoài nước. Cô
giáo Nguyễn Thị Thu Hà – phó Hiệu trưởng nhà
trường khai mạc Câu lạc bộ và giảng cho các em học
sinh bài học về trái tim. Trong lời khai mạc của mình,
cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà kể lại cho các em học sinh
trong câu lạc bộ nghe câu chuyện về “Trái tim
Đanko”, qua câu chuyện giúp các em thấy được ý
nghĩa của chí khí anh hùng bắt nguồn từ lòng yêu
nước nồng nàn, tình yêu thương, đặc biệt là ý
thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập
thể. Trái tim Đanko là một phần trong tác phẩm nổi
tiếng “Bà lão Idécghin” của Mác-xim Gorki. Chuyện
kể rằng chàng Danko đã dũng cảm, xé toang lồng ngực
móc trái tim mình ra giương lên cao như ngọn đuốc sáng
giúp dân làng vượt qua vùng tăm tối để tới miền
đất hứa. Tấm gương như sứ thần Giang Văn Minh và
các liệt sĩ bao đời đã hy sinh vì dân tộc Việt soi
đường cho muôn thế hệ. Việt Nam có phải là ‘miền
đất hứa’? Trả lời câu hỏi này là tất cả
người Việt chúng ta! Trước hết là vai trò và trách
nhiệm của những người đang điều hành và quản lý
đất nước. Câu chuyện về sự hy sinh can đảm của
Giang Văn Minh có thể nhắc nhở nhiều điều. Đó là
tấm gương sáng chói về tinh thần xả thân vì đất
nước. Đó cũng là bài học lớn mà cha ông ta đã dạy
về ý thức cảnh giác sẵn sàng đối phó với những
thủ đoạn rất tàn bạo, rất bất ngờ của các thế
lực bành trướng phương Bắc. Tưởng nhớ và tri ân
các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước không thể
chỉ bằng các lời hứa suông mà phải bằng các hành
động thiết thực. Chính bọn tham nhũng, các nhóm lợi
ích đang làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu sức mạnh
của dân, có thể nhắc nhở ta và làm chúng ta thấy
xấu hổ, cảm thấy có lỗi với các bậc tiên liệt.
Liệt sĩ vì nước hy sinh đời nào cũng có. Nhưng có
những Anh hùng liệt sĩ làm nên những Anh hùng liệt
sĩ, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu; có những quân thần
giàu lòng yêu nước, tự trọng dân tộc và trí dũng
song toàn như Giang Văn Minh…, tựu trung nhất là hình
ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những liệt sĩ hy sinh cho
nòi giống Việt Nam không bị đồng hóa, nhờ đó mà
còn Tổ Quốc để cho các thế hệ nối tiếp hy sinh
bảo vệ Tổ Quốc. Những liệt sĩ ấy thuộc bậc siêu
phàm và hiển thánh! Theo Tô Văn Trường Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ
TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO
Nghĩ về tượng Đức Thánh Trần ở Trường Sa Cập
nhật lúc :10:55 AM, 05/06/2012 Việc dựng tượng Đức
Thánh Trần, thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy
nhất được nhân dân phong Thánh, tại Song Tử Tây, nơi
đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa, là một việc làm
thật có ý nghĩa! Đây một hành động mạnh mẽ trong
quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh Việt
Nam “có cứng mới đứng đầu gió”, gió Biển Đông!
Ngọn gió của “bát ngát sóng kình muôn dặm”,
“nước trời một sắc” nơi “sóng Hồng cuốn cuộn
tuôn về Biển Đông” mà Trương Hán Siêu nói đến
trong Bạch Đằng Giang phú: “Đây là chiến địa buổi
Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Cũng là bãi biển xưa,
thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”. “Ô Mã” đây
chính là tên tướng Tàu xâm lược ở thế kỷ 13 từng
khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời,
ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống
đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn
xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng
y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng, nơi Hưng
Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc
đâm thủng thuyền giặc. Tượng Đức Thánh Trần tại
đảo Song Tử Tây. Đúng là trong những trận quyết
chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai
trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông
cha ta, một quốc gia bán đảo với bờ biển dài
3.260km, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo. Hơn nữa, trong
tâm thế Việt, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng
cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô
Mã Nhi, Phàn Tiếp dạo ấy... và bất kỳ kẻ xâm
lược nào đang lảng vảng ở Biển Đông hôm nay chắc
sẽ vẫn còn nhớ đến bài học xưa. Bao đời đứng
trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu,
ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe
được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không
mỏi vỗ sóng vào bờ... Ngay cây rừng cũng mọc rậm
rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà
đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến... Con mắt
và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại
ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng
một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất
nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có
trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn
nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều
đó!” Ngẫm sâu vào tự tình dân tộc sẽ thấy rằng,
trong cảm thức người Việt chúng ta, núi và biển có
sức lay động thật mãnh liệt. Biểu tượng con Rồng,
cháu Tiên từ huyền thoại Lạc Long - Âu Cơ ghi đậm
không chỉ là hình tượng thăng hoa của nguồn cội, mà
suy ngẫm cho kỹ, thì ra đây từng là sự lựa chọn
của ông cha ta, hướng núi hay hướng biển? Dựa vào
hình thể đất nước thì chọn hướng nào để phát
triển? Trường Sa. Phải chăng truyền thuyết 50 người
con theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển là
một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi
và hướng biển. Mà hướng biển xem ra có phần ưu
trội vì trong mô hình mẫu hệ thì “mẹ Âu Cơ”
chắc không phải là yếu thế hơn, nếu không là
ngược lại. Chỉ có điều, ân huệ của biển rất
nhiều song không dễ thụ hưởng, còn tai họa vì bão
lụt do biển gây ra thì lại bạo liệt tàn khốc. Vì
thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” và là
yếu tố bảo thủ nhất, biến đổi chậm nhất theo
thời gian, cùng với các yếu tố tự nhiên khác như
khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn
“hướng núi”, dựa vào núi để mà mở nước phải
chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng
đừng vào buổi ấy mặc dù biển vẫn luôn vẫy gọi.
Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi
về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ 17. Bản lĩnh
đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái
thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam,
hướng ra biển từ dải Hoành Sơn, tạo ra một thế
phát triển mới. Tầm nhìn chiến lược, xuyên lịch
sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của
bậc danh sĩ thế kỷ 16 Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản
lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi
Nguyễn Hoàng, đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm
thế dân tộc: hướng ra biển. Nhưng cũng chính vì thế
mà những thế lực bành trướng quyết chặn con
đường biển của chúng ta, không muốn chúng ta mạnh
lên, cản trở cho tham vọng bành trướng của chúng. Mà
đâu chỉ phải hôm nay. Trong lịch sử, các đạo quân
xâm lược tràn vào nước ta từ đường biển. Cho nên,
ông cha ta không một khoảnh khắc lơi lỏng. “Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư chép: năm 1161, Lý Anh Tông sai đô
tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai
vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây
Nam để giữ yên cõi xa. Năm 1171, vua đi tuần các hải
đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình
đau khổ và đường đi xa gần thế nào. Năm 1172, mùa
Xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa
giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép
phong vật rồi về. Liệu đây có phải là vị vua đầu
tiên vẽ bản đồ đất nước? Và chính trên con
đường biển ấy, bao thây xâm lược đã làm mồi cho
cá. Trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân
Nam Hán đánh dấu một bước trong tiến trình xây dựng
và bảo vệ quốc gia độc lập là một ví dụ. Bình
về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “Một vũ công
cao cả vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy
ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!” . Quả đúng
vậy! Trận quyết chiến chiến lược của quân dân
đời Trần tháng ba năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ
huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan
mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông
Bạch Đằng lịch sử này. Trong Nguyên sử, q.166, Phàn
Tiếp truyện chép: “Kịch chiến từ giờ Mão đến
giờ Dậu”, tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên
tính khốc liệt của cuộc chiến. Rõ ràng là vào thời
điểm nhạy cảm như hiện nay, càng phải có ý thức
thường trực về việc động viên tình cảm yêu nước
của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện
để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm
thất thoát hay để thui chột tình cảm ấy, vì những
ứng xử tế nhị trên trường quốc tế mà cản trở
việc tuổi trẻ thể hiện tình cảm yêu nước đó là
có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông
đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất,
từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn
gấm vóc hôm nay. Việc dựng tượng Đức Thánh Trần
tại Song Tử Tây của Trường Sa đầu sóng ngọn gió
có ý nghĩa gợi nhớ bài học lịch sử vẻ vang của
dân tộc ta, đồng thời cũng biểu tỏ bản lĩnh Việt
Nam trước mọi mưu toan của kẻ thù. 14-3-1988 - TƯỞNG NHỚ CÁC ANH
CÁC BẬC ANH HÙNG NƯỚC VIỆT
>
Giấc Mơ Trưa

Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Phương Yến (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:29' 20-07-2012
Dung lượng: 415.9 KB
Số lượt tải: 6
Mô tả:
GIẤC MƠ TRƯA
(Nhạc: Giáng Son - Thơ: Nguyễn Vĩnh Tiến)Trình bày : Thùy Chi“Em nằm em mơ, một ngày trong veo, một mùa nghiêng nghiêng…”
Giấc mơ của cô bé trong ca khúc sao mà nhẹ nhàng, thơ mộng quá, không gian mơ màng óng ánh sắc màu như trong cổ tích. Ngày “trong veo ấy” có giống buổi trưa nay không nhì? Tâm hồn tôi miên man theo từng ca từ của khúc hát quen thuộc. Có cái gì đó rất đặc biệt, rất mới lôi cuốn tôi.“Ngày trong veo”, “mùa nghiêng nghiêng” trong mắt cô bé sao mà dễ thương quá! Nó trong veo như tâm hồn và nghiêng nghiêng như dáng vẻ thướt tha của ai đó. Hình ảnh này có khác gì phong cảnh quê hương tôi, những cánh đồng trải dài tít tắp, những đàn cò trắng lặng lẽ bay. Nỗi nhớ quê mỗi lúc một lớn dần theo lời bài hát, kỉ niệm dâng ngập lòng!Thả hồn trong dòng suy tưởng, tôi đặt hồn mình về với tuổi thơ, để tự do cảm nhận sự yên ả, êm đềm, bình lặng. Từng làn gió lùa vào tóc tựa như vuốt ve, phả vào mắt, vào mũi mùi hương của hoa cỏ dại. Tôi nhớ đến những chiều tan trường, cùng ai đó tản bộ trên triền đê để nghe lúa reo, để bắt dế, bắt chim đồng, để tiếng gió cứ mãi rót vào tai thì thầm, như giọng nói ai kia ngọt ngào trìu mến, để gió làm bay bay tà áo dài, để gió vương lên mắt ai, xôn xao lòng ai, mặt ai đỏ lên ngượng nghịu. Nhớ sao là nhớ…
Lời nhạc lại vang lên:
“Em về nơi ấy, một bờ vai xanh, một dòng tóc xanh…”
Nơi ấy là đâu? Cô bé chắc tìm về nơi dệt nên kỉ niệm, hình ảnh cũng lặng lẽ nhẹ nhàng theo nhịp điệu du dương, chầm chậm ngân vang, theo bóng dáng ai đó đang khuất dần, khuất dần để cuối cùng chỉ còn thấy bờ vai và mái tóc xõa dài hòa vào trong nền trời xanh thẳm, một màu xanh bất tận, mênh mông đến nhạt nhòa, đến ngỡ rằng đó là cơn mưa chiều thoáng ghé qua từ cuối chân trời.
Một mình lạc bước giữa không gian tuyệt đẹp, giữa một màu xanh bao la, thế nhưng cô bé không cô đơn với bước chân vô định :
“Và gió theo em trôi về con đường, và nắng theo em bên dòng sông vắng…”
Thời gian cư trôi, mùa ấy cũng không còn, bước đi của trời đất đã cuốn đi hết những mộng đẹp, và ai đó đã vô tình quên mất cô bé ngày nào, quên giọng nói dịu dàng, quên đi những câu chuyện cô kể tự bao giờ.
“Từng dấu chân xưa trên đường em về, giờ đã ra hoa những nhành hoa thắm...”
Cô bé tìm về kỉ niệm, bàn chân bước trên đường cũ như ngày nào, những vết chân xưa đã mọc lên những bông hoa rực rỡ màu thắm đỏ. Cổ tích đã nở hoa, cô bé chẳng thể nào tìm lại được, kỉ niệm giờ đây chỉ còn trong kí ức, thời gian đã xóa mờ đi tất cả. Cảm giác tiếc nuối xót xa ngậm ngùi dâng lên. Thiên đường thần tiên một thời mãi chẳng về nữa.
“Này giấc mơ trưa bao giờ em về”. Phải không điều cô bé đang ước ao "một tiếng chuông chùa” bất ngờ cuối ca khúc đã đánh thức giấc mơ ngọt ngào, đánh thức cả một miền cổ tích ngày nào, một buổi trưa thanh bình, tiếng chuông như phá đi cái dồn nén, cái tích tụ của cảm xúc để phút chốc vút theo tiếng chuông, tan vào vũ trụ bao la, vời vợi…
Giấc ngủ trưa nay của tôi cũng bay bay, chập chờn như thế. Ánh nắng ngoài trời đã rọi thẳng vào tấm màn che. Tôi tỉnh giấc hẳn, ngồi dậy đưa tay vuốt nhẹ những sợi tóc rối. Lời bài hát cứ vang vang, sót lại đâu đây, da diết trong trẻo nhưng lại thoáng buồn. Ca khúc đã ru tôi trưa nay, cho tôi tìm về những khoảnh khắc tuyệt vời của những ngày xưa yêu dấu. Đã lâu lắm, giấc ngủ tôi luôn được ru bằng những âm thanh ồn ào: tiếng xe cộ, tiếng rao hàng rong, tiếng loa gọi tên mỗi khi có người thân cần gặp, và hỗn độn nhiều âm thanh khác nữa. Bài hát làm tôi mỉm cười: cuộc sống phải chăng là sự tồn tại giữa cái được và cái mất, giữa hạnh phúc và đau khổ. Và chỉ khi nào trong ta còn có đủ cả hai thì mới đúng là ta đang sống.
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BỤI PHẤN
MỜI BẠN CÙNG ĐI DU LỊCH
Anh giờ này đang xa cách ngàn phương
Những bình yên có hay không khi mình thôi chung
hướng?
Trao trả lại nhau những gì ta cho là quá khứ
Và mỗi người tìm một chốn bình yên.
Chao.
�
�






Em đến thăm thầy. Em kính chúc thầy nhiều sức khỏe, vui hè thú vị ạ.
Thầy khỏe hẳn rồi chứ? E làm sao quên được hả thầy!
CHÚC THẦY ĐÓN CHÀO NGÀY CUỐI TUẦN TRÀN ĐẦY NGỌT NGÀO THI VỊ !
Rất cảm ơn....tất cả...đã ghé thăm
Em thăm thầy. Chúc thầy luôn vui khỏe, tràn đầy yêu thương trong cuộc sống.
Cảm ơn.....TS -CT-TA đã đến thăm