KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7
KỈ NIỆM 66 NĂM NGÀY TBLS 27-7
Giang Văn Minh sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông
Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây
trước năm 1945, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn
Tây (Hà Nội). Giang Văn Minh học giỏi, đỗ đạt cao
làm quan Triều Lê nổi tiêng thanh liêm, cương trực và
ứng đối giỏi. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi
thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa, khoa thi Mậu
Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Ở
Thái Bình quê tôi, trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở
thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái
Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2
(1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa
Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại
phu, Thái bộc tự khanh. Nơi ông sinh ra ở xã Đường
Lâm cũng là quê hương của 2 vị vua nổi tiếng thời
xưa là Phùng Hưng-Bố Cái Đại Vương và vua Ngô
Quyền. Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông
được vua Lê cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu
phong và tuế cống nhà Minh. Đến khi triều kiến, Minh
Tự Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vừa
tìm cách ngăn trở việc công nhận sự chính thống
của nhà Hậu Lê vừa ngạo mạn có ý coi thường Giang
Văn Minh và muốn hạ nhục đoàn sứ thần nước Nam
nên ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!”
( Cột đồng đến nay rêu vẫn còn xanh) Câu này có hàm
ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi
nguiã Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột
đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại
Việt – bị diệt vong). Sứ thần nước Nam, Giang Văn
Minh bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết
do hồng!” ( Sông Bạch Đằng từ lâu máu vẫn đỏ) Ý
nhắc đến việc từ xưa đã nhiều lần người nước
Nam chiển thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc
trên sông Bạch Đằng. Câu đối lại của Giang Văn Minh
thật là hoàn chỉnh, cả ý lẫn từ, lại thể hiện
được khí phách hiên ngang anh hùng của dân tộc Việt
Nam trước quân xâm lược. Tức giận vì bị làm bẽ
mặt, bất chấp phép tắc ngoại gíao, vua Minh đã trả
thù bằng cách trát đường vào miệng và mắt ông,
rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to
gan lớn mật đến đâu”. Nhưng sau cảm phục khí
phách can đảm anh hùng của sứ thần nước Nam, vua Minh
cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân để
đưa về quê xã Đường Lâm an táng. Ở Hà Nội hiện
nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với
phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình (Hà Nội).
Hiện nay, ngôi mộ của Giang Văn Minh thường xuyên
được du khách đến thăm viếng với lòng biết ơn,
kính phục, ngưỡng mộ. Nhân ngày 27/7 chúng ta thành
kính nghiêng mình thắp nén hương tưởng nhớ Giang Văn
Minh vị anh hùng liệt sĩ huyền thoại. Chúng ta hãy
tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ đã cảm tử cho
Dân tộc Lạc Việt trường tồn, nhân ngày kỷ niệm
thiêng liêng 27/7. Và người sống chúng ta sẽ phải
sống thế nào để không hổ thẹn với những xương
máu của biết bao thế hệ anh hùng, liệt sĩ đã hy
sinh, những hồn thiêng bất tử. Nhà nước cần phải
có kế hoạch khẩn trương nạp kiến thức chuẩn mực
cho thế hệ trẻ vì suy cho cùng xây chùa là cần nhưng
cứu người lại càng cần hơn.
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng!” Đầu tháng 12
năm ngoái (2012), hướng tới kỷ niệm chào mừng 95 năm
ngày thành lập trường, Ban giám hiệu trường THCS
Trưng Vuơng (Hà Nội) kết hợp với bên “TGM – Tôi
tài giỏi! Bạn cũng thế” tổ chức câu lạc bộ
“Trái tim Trưng Vương”. Ý nghĩa việc thành lập câu
lạc bộ “Trái tim Trưng Vương” là muốn tạo ra một
đội tình nguyện viên hiểu sâu sắc về ngôi trường
các em đang học: lịch sử, tổ chức, … để từ đó
các em có thể giới thiệu về ngôi trường của mình
khi tiếp đón các đoàn khách trong và ngoài nước. Cô
giáo Nguyễn Thị Thu Hà – phó Hiệu trưởng nhà
trường khai mạc Câu lạc bộ và giảng cho các em học
sinh bài học về trái tim. Trong lời khai mạc của mình,
cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà kể lại cho các em học sinh
trong câu lạc bộ nghe câu chuyện về “Trái tim
Đanko”, qua câu chuyện giúp các em thấy được ý
nghĩa của chí khí anh hùng bắt nguồn từ lòng yêu
nước nồng nàn, tình yêu thương, đặc biệt là ý
thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập
thể. Trái tim Đanko là một phần trong tác phẩm nổi
tiếng “Bà lão Idécghin” của Mác-xim Gorki. Chuyện
kể rằng chàng Danko đã dũng cảm, xé toang lồng ngực
móc trái tim mình ra giương lên cao như ngọn đuốc sáng
giúp dân làng vượt qua vùng tăm tối để tới miền
đất hứa. Tấm gương như sứ thần Giang Văn Minh và
các liệt sĩ bao đời đã hy sinh vì dân tộc Việt soi
đường cho muôn thế hệ. Việt Nam có phải là ‘miền
đất hứa’? Trả lời câu hỏi này là tất cả
người Việt chúng ta! Trước hết là vai trò và trách
nhiệm của những người đang điều hành và quản lý
đất nước. Câu chuyện về sự hy sinh can đảm của
Giang Văn Minh có thể nhắc nhở nhiều điều. Đó là
tấm gương sáng chói về tinh thần xả thân vì đất
nước. Đó cũng là bài học lớn mà cha ông ta đã dạy
về ý thức cảnh giác sẵn sàng đối phó với những
thủ đoạn rất tàn bạo, rất bất ngờ của các thế
lực bành trướng phương Bắc. Tưởng nhớ và tri ân
các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước không thể
chỉ bằng các lời hứa suông mà phải bằng các hành
động thiết thực. Chính bọn tham nhũng, các nhóm lợi
ích đang làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu sức mạnh
của dân, có thể nhắc nhở ta và làm chúng ta thấy
xấu hổ, cảm thấy có lỗi với các bậc tiên liệt.
Liệt sĩ vì nước hy sinh đời nào cũng có. Nhưng có
những Anh hùng liệt sĩ làm nên những Anh hùng liệt
sĩ, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu; có những quân thần
giàu lòng yêu nước, tự trọng dân tộc và trí dũng
song toàn như Giang Văn Minh…, tựu trung nhất là hình
ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những liệt sĩ hy sinh cho
nòi giống Việt Nam không bị đồng hóa, nhờ đó mà
còn Tổ Quốc để cho các thế hệ nối tiếp hy sinh
bảo vệ Tổ Quốc. Những liệt sĩ ấy thuộc bậc siêu
phàm và hiển thánh! Theo Tô Văn Trường Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ
TƯỢNG ĐÀI ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO
Nghĩ về tượng Đức Thánh Trần ở Trường Sa Cập
nhật lúc :10:55 AM, 05/06/2012 Việc dựng tượng Đức
Thánh Trần, thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy
nhất được nhân dân phong Thánh, tại Song Tử Tây, nơi
đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa, là một việc làm
thật có ý nghĩa! Đây một hành động mạnh mẽ trong
quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh Việt
Nam “có cứng mới đứng đầu gió”, gió Biển Đông!
Ngọn gió của “bát ngát sóng kình muôn dặm”,
“nước trời một sắc” nơi “sóng Hồng cuốn cuộn
tuôn về Biển Đông” mà Trương Hán Siêu nói đến
trong Bạch Đằng Giang phú: “Đây là chiến địa buổi
Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Cũng là bãi biển xưa,
thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”. “Ô Mã” đây
chính là tên tướng Tàu xâm lược ở thế kỷ 13 từng
khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời,
ta theo lên trời; ngươi chạy xuông đất ta theo xuống
đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn
xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng
y bị tóm cổ tại cửa sông Bạch Đằng, nơi Hưng
Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc
đâm thủng thuyền giặc. Tượng Đức Thánh Trần tại
đảo Song Tử Tây. Đúng là trong những trận quyết
chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai
trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông
cha ta, một quốc gia bán đảo với bờ biển dài
3.260km, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo. Hơn nữa, trong
tâm thế Việt, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng
cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô
Mã Nhi, Phàn Tiếp dạo ấy... và bất kỳ kẻ xâm
lược nào đang lảng vảng ở Biển Đông hôm nay chắc
sẽ vẫn còn nhớ đến bài học xưa. Bao đời đứng
trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu,
ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe
được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không
mỏi vỗ sóng vào bờ... Ngay cây rừng cũng mọc rậm
rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà
đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến... Con mắt
và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại
ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng
một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất
nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có
trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn
nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều
đó!” Ngẫm sâu vào tự tình dân tộc sẽ thấy rằng,
trong cảm thức người Việt chúng ta, núi và biển có
sức lay động thật mãnh liệt. Biểu tượng con Rồng,
cháu Tiên từ huyền thoại Lạc Long - Âu Cơ ghi đậm
không chỉ là hình tượng thăng hoa của nguồn cội, mà
suy ngẫm cho kỹ, thì ra đây từng là sự lựa chọn
của ông cha ta, hướng núi hay hướng biển? Dựa vào
hình thể đất nước thì chọn hướng nào để phát
triển? Trường Sa. Phải chăng truyền thuyết 50 người
con theo cha lên núi và 50 người theo mẹ xuống biển là
một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi
và hướng biển. Mà hướng biển xem ra có phần ưu
trội vì trong mô hình mẫu hệ thì “mẹ Âu Cơ”
chắc không phải là yếu thế hơn, nếu không là
ngược lại. Chỉ có điều, ân huệ của biển rất
nhiều song không dễ thụ hưởng, còn tai họa vì bão
lụt do biển gây ra thì lại bạo liệt tàn khốc. Vì
thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” và là
yếu tố bảo thủ nhất, biến đổi chậm nhất theo
thời gian, cùng với các yếu tố tự nhiên khác như
khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn
“hướng núi”, dựa vào núi để mà mở nước phải
chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng
đừng vào buổi ấy mặc dù biển vẫn luôn vẫy gọi.
Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi
về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ 17. Bản lĩnh
đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái
thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam,
hướng ra biển từ dải Hoành Sơn, tạo ra một thế
phát triển mới. Tầm nhìn chiến lược, xuyên lịch
sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của
bậc danh sĩ thế kỷ 16 Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản
lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi
Nguyễn Hoàng, đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm
thế dân tộc: hướng ra biển. Nhưng cũng chính vì thế
mà những thế lực bành trướng quyết chặn con
đường biển của chúng ta, không muốn chúng ta mạnh
lên, cản trở cho tham vọng bành trướng của chúng. Mà
đâu chỉ phải hôm nay. Trong lịch sử, các đạo quân
xâm lược tràn vào nước ta từ đường biển. Cho nên,
ông cha ta không một khoảnh khắc lơi lỏng. “Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư chép: năm 1161, Lý Anh Tông sai đô
tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai
vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây
Nam để giữ yên cõi xa. Năm 1171, vua đi tuần các hải
đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình
đau khổ và đường đi xa gần thế nào. Năm 1172, mùa
Xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa
giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép
phong vật rồi về. Liệu đây có phải là vị vua đầu
tiên vẽ bản đồ đất nước? Và chính trên con
đường biển ấy, bao thây xâm lược đã làm mồi cho
cá. Trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân
Nam Hán đánh dấu một bước trong tiến trình xây dựng
và bảo vệ quốc gia độc lập là một ví dụ. Bình
về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “Một vũ công
cao cả vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy
ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!” . Quả đúng
vậy! Trận quyết chiến chiến lược của quân dân
đời Trần tháng ba năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ
huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan
mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông
Bạch Đằng lịch sử này. Trong Nguyên sử, q.166, Phàn
Tiếp truyện chép: “Kịch chiến từ giờ Mão đến
giờ Dậu”, tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên
tính khốc liệt của cuộc chiến. Rõ ràng là vào thời
điểm nhạy cảm như hiện nay, càng phải có ý thức
thường trực về việc động viên tình cảm yêu nước
của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện
để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm
thất thoát hay để thui chột tình cảm ấy, vì những
ứng xử tế nhị trên trường quốc tế mà cản trở
việc tuổi trẻ thể hiện tình cảm yêu nước đó là
có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông
đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất,
từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn
gấm vóc hôm nay. Việc dựng tượng Đức Thánh Trần
tại Song Tử Tây của Trường Sa đầu sóng ngọn gió
có ý nghĩa gợi nhớ bài học lịch sử vẻ vang của
dân tộc ta, đồng thời cũng biểu tỏ bản lĩnh Việt
Nam trước mọi mưu toan của kẻ thù. 14-3-1988 - TƯỞNG NHỚ CÁC ANH
CÁC BẬC ANH HÙNG NƯỚC VIỆT
>
Đây thôn Vỹ Dạ
Nguồn: doquyen46
Người gửi: Lê Thị Phương Mai (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:25' 11-08-2012
Dung lượng: 13.4 MB
Số lượt tải: 294
Mô tả:
Thơ: Hàn Mạc Tử
Nhạc:Võ Tá Hân - Vương Ngọc Long
Ca sĩ: Vân Khánh

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
“Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử.
Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận "cái tình" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh- Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rõ nét trong khổ thơ:
"Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.
Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thì mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tả vô tình, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.
Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình lại thay đổi:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”
Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn. Hình ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. Tình cảm ấy quả thật là tình cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).
Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tình trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:
“Mơ khách đường xa khách dường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa”- người thôn Vĩ đến với mình, tâm trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932- 1945 cũng ở đó.
Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -…. kịp tối nay” để lại trong lòng người đọc những tình cảm đẹp. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.
Bài Văn được điểm 10 của thí sinh Nguyễn Trung Ngân, dự thi ĐH Cần Thơ 2008:
ST
Nhắn tin cho tác giả
Báo tư liệu sai quy định
Xem toàn màn hình
Mở thư mục chứa tư liệu này
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BỤI PHẤN
MỜI BẠN CÙNG ĐI DU LỊCH
Anh giờ này đang xa cách ngàn phương
Những bình yên có hay không khi mình thôi chung
hướng?
Trao trả lại nhau những gì ta cho là quá khứ
Và mỗi người tìm một chốn bình yên.
Chao.
�
�






Rất mong có một dịp được đón cô thầy về thăm Huế thương, PM sẽ mời cô thầy qua Vỹ Dạ xưa
Chào thầy TT! cam ơn thầy TT đã tơi thăm và tặng quà. Ngọc bận đi khọc nên không có thời gian mong thầy thông cảm
Thăm Thầy!Chúc Thầy sức khỏe nhé.